Sáng kiến kinh nghiệm dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ theo định hướng phát huy năng lực

Tên đề tài :VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI DẠY ĐÂY THÔN VĨ DẠ
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
 1.Giải pháp cũ thường làm
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng dạy những tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ trữ tình trước đây, bản thân tôi cùng các đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thống. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông. Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôi thấy dù có thành công mấy đi chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ tri thức một cách máy móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trở làm cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng hơn là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được những tri thức mới như thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó tôi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra được một phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn ngày nay.

  1. Giải pháp mới cải tiến

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh là phương hướng phù hợp với nhịp độ phát triển của thời đại đổi mới của đất nước. Nắm được phương pháp trên và đưa nó ứng dụng vào giảng dạy, học tập môn ngữ văn ở trường THPT đối với các nhà quản lý giáo dục và đặc biệt đối với các giáo viên đứng lớp là điều hết sức quan trọng để có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kì hiện đại.
Xuất phát từ chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp giáo dục là một trong những khâu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay. Đồng thời trên cơ sở gắn bó với nghề và bắt nguồn từ những băn khoăn trăn trở trong quá trình dạy học môn ngữ văn ở trường THPT là làm thế nào để có được một giờ học tốt, làm sao để học sinh có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học vào trong học tập và ứng dụng vào thực tế cuộc sống, đồng thời phát huy được năng lực vốn có của học sinh. Điều đó đã thôi thúc tôi suy nghĩ để đưa ra phương pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy một số tác phẩm thơ trong chương trình ngữ văn 11 và có thể đáp ứng được phần nào định hướng giáo dục là chú trọng phát huy năng lực của học sinh.
Ở đề tài này tôi cố gắng đi sâu vào phương pháp giảng dạy một tác phẩm cụ thể trong chương trình ngữ văn 11 đó là bài thơ đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử theo hướng phát huy năng lực của học sinh. Để có thể trao đổi một số kinh nghiệm và đưa ra hướng giảng dạy phù hợp với phương pháp mới.
Trong quá trình soan giảng tôi luôn cố gắng tìm ra hướng đi mới để có thể định hướng cho học sinh phát huy được năng lực sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức mới và giúp học sinh có hứng thú hơn trong quá trình học tập.
Phần 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

  1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng lực của học sinh

1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng lực của học sinh
Đổi mới PPDH môn ngữ văn ở trường THPT là kết quả của một quá trình nghiên cứu, thực hiện kiên trì và được nghiệm thu. Khâu đột phá về chất lượng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là bồi dưỡng năng lực thực hành nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên. Trước hết đội ngũ giáo viên phải nhận thức việc đổi mới  phương pháp dạy học bộ môn thường xuyên là lẽ sống, là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của người thầy. Thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi. Thầy giỏi ở trường THPT là người có khả năng tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo xu thế quốc tế, đáp ứng những đòi hỏi của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biết thường xuyên vận dụng kết quả tự nghiên cứu của mình vào quá trình dạy học bộ môn.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Đối với giáo viên Trung học, đó là cách hiểu mới về môn học, về bản chất của khoa học và nghệ thuật của văn chương. Không hiểu văn không thể dạy văn. Yêu cầu nắm vững kiên thức cơ bản về ngữ văn vẫn là một trong những nhân tố quan trọng về tiềm năng của người giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng lực của học sinh
Việc đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục Trung học. Việc đổi mới phương pháp dạy học cần phù hợp với những định hướng đổi mới chung của chương trình giáo dục trung học.
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản:
– Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
– Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo: ” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”
– Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ chỉ rõ: ” Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lục tự học của người học.”
Những quan điểm, định hướng nêu trên là cơ sở thực tiễn và môi trường pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng năng lục người học nói riêng.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ xung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
– Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bào yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.
– Cần sử dụng đủ, hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiếu đã quy định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

  1. Một số đặc điểm tâm lí của Học sinh THPT

Muốn tìm ra được phương pháp phù hợp để giáo dục học sinh phát triển theo đúng hướng, đúng với mục tiêu, nội dung giáo dục, chúng ta cần phải hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh. Tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông có những đặc trưng khác so với tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở hoặc tiểu học.
2.1. Đặc điểm về sự hình thành thế giới quan
Trong tâm lý của học sinh THPT thì sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội với bao điều đang đón đợi các em ở phía trước, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử trong cuộc sống, những định hướng giá trị về con người. Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động…
Ở lứa tuổi học sinh THPT thì các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày. Các em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó. Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hình ảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên.
2.2. Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều  kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ.
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học  bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh. Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ. Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh. Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng lực phân tích, tổng hợ, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có  thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học. Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn. Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý.
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh. Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng. Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên.
2.3. Đặc điểm về hoạt động học tập
Cũng như học sinh Trung học cơ sở hay Tiểu học thì hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ phát triển tư duy khái quát cao hơn. Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải không muốn học như nhiều người nghĩ. Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn.
Tình cảm và thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt. Học sinh THPT đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy thử thách mà đòi hỏi các em phải tự lập. Thái độ, ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ. Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: vốn tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội. Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm riêng của mình. Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học. Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học. Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát  triển nhân cách toàn diện của học sinh.
Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn. Các em thường bắt đầu có hứng thú nhất định đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó. Điều đó đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng. Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em. Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là  học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em.

  1. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh

3.1. Xác định các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn cấp THPT
Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để đáp ứng những yêu cầu phát trển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết,  nó trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong hệ thống giáo dục nước nhà nói riêng.
Trong dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau 2015 đã nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực. Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…., nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có đó là các năng lực chung cốt lõi. Năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực cơ bản: Năng lực giải quết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ.
Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó mang đặc thù riêng của môn học, do đó năng lực tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ  là những năng lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học, ngoài ra các năng lực còn lại đóng vai trò là các năng lực chung.
Quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói. Với đặc trưng của môn học, môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn, nhằm hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập được các văn bản theo các kiểu loại khác nhau.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn ngữ văn giúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kỹ năng nói và viết). Năng lực đọc-hiểu văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về Tiếng Việt, về các loại hình văn bản và kỹ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin, cảm thụ cái đẹp và giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật.
Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa, cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản, theo các phương thức biểu đạt khác nhau, theo hình thức trình bày miệng hoặc viết. Thông qua các năng lực học tập của bộ môn để hướng tới các năng lực chung và các năng lực đặc thù của môn học.
3.2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới phương pháp dạy học của chương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh.
Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học theo dự án,…cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi học sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống. Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của học sinh trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận,…vận dụng các phương pháp dạy học theo đặc thù của môn học và các phương pháp dạy học chung một cách phù hợp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn.
3.2.1. Phương pháp tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong học tập. Trong thảo luận nhóm, học sinh được tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề khó khăn.
Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề  bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình. Trong môn ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một số nội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thể một văn bản văn học thành một kịch bản sân khấu, xử lý một tình huống giao tiếp giả định, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau…
Phương pháp nghiên cứu tình huống là một phương pháp dạy học, trong đó trọng tâm của quá trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp(tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn. Với phương pháp này, học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm. Các tình huống được đưa ra là những tình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, tình huống đó đã gặp hoặc có thể gặp hàng ngày. Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết các vấn đề đó đòi hỏi có những quyết định dựa trên cơ sở những giải pháp được đưa ra để giải quyết. Trong nghiên cứu trường hợp, học sinh không phải ghi nhớ lý thuyết mà quan trọng là vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết những tình huống cụ thể. Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiện trong một số nội dung sau: Phân tích một tình huống giao tiếp, tìm hiểu một văn bản văn học tiêu biểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống để tạo lập một văn bản.
Phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Dạy học theo dự án là phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó học sinh hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu, thực hành nghiên cứu một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn đề trong cuộc sống. Nói khác, học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho người học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Quá trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc biệt là cho thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống. Học theo dự án là hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả năng.
3.2.2. Hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh là một trong những nhân tố góp phần không nhỏ vào sự thành công trong việc nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục ở trường trung học phổ thông.
Dạy học môn ngữ văn ở trương THPT thường được tổ chức dưới hai hình thức cơ bản là: hình thức tổ chức dạy học trong lớp và ngoài lớp. Hình thức tổ chức dạy học trong lớp là hình thức tổ chức dạy học trong các giờ học chính khóa. Trong đó giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo các nội dung học tập. Hình thức tổ chức dạy học này được thực hiện theo các cách sau: Học theo cá nhân, học theo nhóm, học theo góc. Hoạt động học theo góc là hình thức tổ chức hoạt động học tập mà người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau và người học có quyền lựa chọn các phong cách phù hợp, tạo cơ hội khám phá, thực hành, mở rộng, phát triển, sáng tạo, đọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm. Do vậy học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động; mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi.
Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp học là hình thức quan trọng, gắn các nội dung học tập với việc vận dụng vào thực tiễn. Hình thức tổ chức này góp phần tạo ra một không gian học tập mở, giúp học sinh có thêm các cơ hội để thể hiện năng lực học tập của mình. Có thể tổ chức hoạt động ngoài lớp học dưới dạng các hoạt động ngoại khóa như: tổ chức câu lạc bộ văn học dân gian, câu lạc bộ thơ; hội thi sáng văn chương cho học sinh (viết truyện, thơ, kịch bản văn học…), hội thi hùng biện về chủ đề xã hội hay văn học đang được quan tâm, hoặc tổ chức các cuộc giao lưu giữa học sinh với các nhà văn, nhà thơ… để khuyến khích tài năng sáng tác văn học của học sinh, đồng thời qua đó học sinh được trải nghiệm mình ở vị trí người sáng tác để cảm nhận và hiểu rõ hơn quy luật sáng tạo văn chương chính là quy luật của tình cảm, cảm xúc.
Phần 2
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI DẠY ĐÂY THÔN VĨ DẠ
 

  1. Định hướng thiết kế bài học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Một giờ dạy học thành công là do sự chi phối của nhiều yếu tố. Chuẩn bị một giờ dạy học là một trong những yếu tố quan trọng, nó quyết định không nhỏ tới thành công của một giờ dạy. Có chuẩn bị tốt, chu đáo, kĩ càng thì hiệu quả của một giờ dạy sẽ được nâng lên một cách rõ ràng.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học.
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổi mới mạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên. Trong thiết kế, giáo viên phải cho thấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu. Với giáo viên, phương pháp thuyết trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chức hoạt động cho học sinh bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án.
Để phát huy được vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh  THPT trong quá trình học tập cần vận dụng lý thuyết kiến tạo của J. Bruner vào trong quá trình dạy học. Thuyết kiến tạo của J. Bruner là lý thuyết về sự nhận thức được bắt nguồn từ tư tưởng của J. Piaget. Đây là một trong những lý thuyết dạy học vượt trội được sử dụng trong giáo dục hiện nay. Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là: con người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh…Trong bất cứ trường hợp nào, mỗi người thật sự là nhà kiến tạo tri thức cho chính bản thân. Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá và đánh giá cái mà chúng ta biết…Trong một lớp học kiến tạo, tâm điểm là xu hướng thay đổi từ giáo viên làm trung tâm đến học sinh làm trung tâm. Trong mô hình kiến tạo, học sinh được tạo cơ hội để hoạt động trong tiến trình học tập của mình. Giáo viên đóng vai trò như là người cố vấn, giúp học sinh phát triển và đánh giá những hiểu biết và việc học tập của các em. Một trong những công việc lớn nhất của giáo viên khi vận dụng lý thuyết sáng tạo vào dạy học là biết cách “hỏi những câu hỏi tốt”. Tiến trình dạy học kiến tạo bao gồm 3 bước:
Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của học sinh
Trong bước này, giáo viên giúp học sinh hệ thống, ôn lại những kiến thức cũ có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập. Sau đó giáo viên hoặc học sinh sẽ nêu vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập.
Bước 2: Tổ chức điều khiển học sinh tiến hành thảo luận
Giáo viên tổ chức cho học sinh đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử và sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức
Giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức mới.
Theo tinh thần trên, thiết kế bài học được biên soạn theo các chủ đề, tổ chức hoạt động cho học sinh theo 5 bước gồm: hoạt động trải nghiệm, hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng, hoạt động bổ xung. Trong mỗi chủ đề, các đơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất. Mỗi đơn vị kiến thức được hướng dẫn học theo một cấu trúc thống nhất gồm các hoạt động, trong đó có hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm; hoạt động với giáo viên và gia đình. Mỗi hoạt động trong tiến trình học tập được xây dựng với mục tiêu, nội dung và cách thức cụ thể như sau:
1.1. Hoạt động trải nghiệm
* Mục đích của hoạt động
– Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới.
– Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới
– Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học.
* Nội dung, hình thức trải nghiệm
– Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng.
– Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: một số hoạt động yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học. Các hoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới.
– Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thú trước khi vào bài học mới. Các trò chơi này cũng cần có nội dung gắn với mỗi bài học.
1.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập/nhiệm vụ.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:
1.2.1. Đọc hiểu văn bản
Bước này yêu cầu học sinh đọc văn bản và chú thích. Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh đọc trước ở nhà. Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu ý trong chú thích. Sau đó giáo viên thiết kế những hoạt động hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các hoạt động kích thích, sáng tạo… Nội dung các bài tập/nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản.
1.2.2. Tích hợp kiến thức kỹ năng Tiếng Việt
Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản. Giáo viên đưa ra một số bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt.
Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kỹ năng, giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn.
1.2.3. Tích hợp kiến thức, kỹ năng làm văn
Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt. Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm văn được giảm tải và chuyển hóa thành kỹ năng.
Lưu ý:
– Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bài tập/nhiệm vụ để có phương án giải quyết. Có thể kích thích lại hứng thú hoặc ra bài tập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dần hiểu biết của các em.
– Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm. Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả và thảo luận với giáo viên.
1.3. Hoạt động thực hành
* Mục đích của hoạt động
Yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hình thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Thông qua đó giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào.
* Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ
– Hoạt động thực hành gồm các bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng có các tri thức vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan.
– Các bài tập/nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự; Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn.
– Các bài tập/nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đến việc hình thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hình thành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức. Đây là hoạt động gắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn…
Lưu ý:
Học sinh có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc nhóm để hoàn thành các câu hỏi, bài tập, bài thực hành…Hoạt động cá nhân để học sinh hiểu và biết được mình hiểu kiến thức như thế nào, có góp gì vào hoạt động nhóm và xây dựng các hoạt động của tập thể lớp. Hoạt động nhóm để trao đổi, chia sẻ kết quả mình làm được, thông qua đó học sinh có thể học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập của học sinh hiệu quả hơn. Kết thúc hoạt động này học sinh sẽ trao đổi với giáo viên để được bổ xung, uốn nắn những nội dung chưa đúng.
1.4. Hoạt động ứng dụng
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế. “Thực tế” ở đây được hiểu là thực tế trong nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học sinh. Hoạt động này sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải quyết vấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực học tập với gia đình và cộng đồng.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các bài tập ứng dụng gồm các loại:
– Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn hóa khác tương ứng. Ví dụ: giải thích các câu tục ngữ, phân tích các bài ca dao, nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa…
– Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa, từ loại, xác định cấu tạo từ…trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống.
– Tiếp tục rèn luyện kỹ năng làm văn.
Lưu ý:
Hoạt động ứng dụng khác với Hoạt động thực hành. Hoạt động thực hành là làm các bài tập cụ thể do giáo viên hoặc sách hướng dẫn đặt ra, còn Hoạt động ứng dụng là hoạt động được triển khai ở nhà, cộng đồng; động viên khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo; giúp học sinh gần gũi với gia đình, địa phương, tranh thủ sự hướng dẫn của gia đình, địa phương. Học sinh tự đặt ra yêu cầu cho mình, trao đổi và thảo luận với gia đình và cộng đồng để cùng giải quyết. Tuy nhiên Hoạt động ứng dụng vẫn có thể được tổ chức trên lớp nếu giáo viên thấy cần thiết và có thời gian.
1.5. Hoạt động bổ xung
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng. Hoạt động này dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của học sinh là không ngừng, như vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rèn luyện sau mỗi bài học cụ thể.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể
– Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
– Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa câu chuyện…
– Tìm đọc sách, báo, mạng in-tơ-nét…một số nội dung theo yêu cầu.
Lưu ý:
– Các nhiệm vụ trong Hoạt động bổ xung được thiết kế cho học sinh tự làm việc ở nhà.
– Hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, đồng thời yêu cầu học sinh làm các bài tập đánh giá năng lực.
Thời gian cho mỗi hoạt động cần được xác định sao cho phù hợp với số tiết học được phân bố cho từng cụm bài/chủ đề, thời khóa biểu lên lớp của giáo viên.
Trong thiết kế bài học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cấp THPT nói trên, giáo viên cần xác định và nêu rõ các cách thức tổ chức hoạt động cho cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp, hoạt động với cộng đồng.
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm vụ một cách độc lập. Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng hoạt động độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bài tập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù. Giáo viên cần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kỹ năng sẽ không được rèn luyện một cách tập trung.
+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm: là những hoạt động nhằm giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng.
Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung bài tập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm. Thông thường, hình thức hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp, những bài tập cần sự chia sẻ. Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…Hình thức hoạt động nhóm được sử dụng trong trường hợp cần sự hợp tác.
+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông học sinh. Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoàn kết, sự chia sẻ, tinh thần chung sống hài hòa.
+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động cue học sinh trong mối tương tác với xã hội. Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giản như: tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địa phương….
Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh cấp THPT trên đây là một hướng đi mới. Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nên đi theo định hướng thiết kế bài học ngữ văn như trên.

  1. Thiết kế bài học Đây thôn Vĩ dạ theo hướng phát triển năng lực của học sinh

2.1. Hoạt động trải nghiệm
Hoạt động này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đi thực tế thăm Huế, thăm thôn Vĩ dạ để học sinh có hứng thú ban đầu khi tiếp nhận tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (Giáo viên có thể sắp xếp thời gian hợp lý để tổ chức cho học sinh đi thực tế trước khi đi vào tìm hiểu tác phẩm)
Trước khi vào bài học Giáo viên tổ chức học sinh khởi động bằng cách đưa ra bài tập trắc nghiệm liên quan đến bài học, mục đích vừa để kiểm tra lại kiến thức mà các em đã tích lũy được trong cuộc sống và quá trình học tập trước đó, vừa để các em bước đầu làm quen và chuẩn bị tâm thế sẵn sàng khám phá tri trức mới của bài học. Câu hỏi trắc nghiệm như sau:
Nhận xét nào sau đây là đúng về Hàn Mặc Tử?

  1. Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới
  2. Nhà thơ lạ nhất trong các nhà thơ mới
  3. Nhà thơ quen nhất trong các nhà thơ mới
  4. Nhà thơ cổ điển nhất trong các nhà thơ mới

2.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới
2.2.1. Phần hình thành kiến thức chung về nhà thơ Hàn Mặc Tử
Giáo viên phân chia nhóm, giao nhiệm vụ/bài tập về nhà, yêu cầu học sinh tự phát huy năng lực sáng tạo và khả năng làm việc nhóm của mình trong quá trình nghiên cứu bài học trước khi lên lớp.
Trên cơ sở phân chia nhóm và giao bài tập hoạt động nhóm về nhà, HS đã chuẩn bị bài ở nhà và đã có những hiểu biết nhất định về cách trình bày sơ đồ tư duy về một tác giả, GV yêu cầu một nhóm cử đại diện trình bày sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử ?
Sau khi học sinh trình bày sản phẩm sơ đồ tư duy về nhà thơ Hàn Mặc Tử, giáo viên tiến hành nhận xét, bổ sung, sửa chữa, mở rộng vấn đề và chốt lại kiến thức cơ bản.
2.2.2. Phần hình thành kiến thức mới về văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”
Phần này giáo viên tổ chức học sinh hình thành kiến thức mới bằng cách giao cho các nhóm các câu hỏi, bài tập, tập hợp thành các câu hỏi theo một hệ thống logic, có thể kết hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Giáo viên định hướng  và kiểm tra học sinh trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Học sinh trên cơ sở thảo luận đi đến thống nhất trong nhóm và cử đại diện trình bày sản phẩm của nhóm mình. Sau đó giáo viên sẽ nhận xét phần trình bày của các nhóm và đi đến thống nhất rồi chốt lại kiến thức cơ bản.
Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với câu hỏi tự luận để các nhóm thảo luận như sau:
* Đối với phần hình thành kiến thức chung về bài thơ đây thôn Vĩ Dạ
– Dòng nào nhận xét đúng về âm điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?

  1. Trầm hùng, bi phẫn trang trọng
  2. Hào sảng, khoan thai dõng dạc
  3. Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải
  4. Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào

– Đề tài của bài thơ là:

  1. Tình yêu thiên nhiên
  2. Tình yêu quê hương đất nước
  3. Tình yêu lứa đôi
  4. Cả A, B,C

* Đối với việc hình thành kiến thức mới về khổ thơ đầu của bài thơ đây thôn Vĩ Dạ
– Xác định Hình thức? Sắc thái? Chủ thể trữ tình trong câu thơ đầu?
 – Bức tranh thôn Vĩ trong hoài niệm của thi nhân hiện lên như thế nào?
 – Xác định hình thức nghệ thuật và tác dụng của hình thức nghệ thuật ấy?(từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ)
 – Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên qua chi tiết nào? sức gợi của chi tiết đó? Từ bức tranh ngoại cảnh em hiểu gì về cảm xúc của thi nhân?
2.3. Hoạt động thực hành
Trên cơ sở yêu cầu học sinh thực hiện những thao tác để chiếm lĩnh tri thức mới từ bài học. Giáo viên rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề trước đám đông cho học sinh bằng cách yêu cầu học sinh tự chủ trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức mới trên cơ sở định hướng của giáo viên và trong quá trình làm việc nhóm yêu cầu các thành viên phải tham gia tích cực vào công việc của nhóm và rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm có hiệu quả. Cần phát huy năng lực của từng cá nhân trong nhóm và thể hiện được sự sáng tạo của các thành viên trong quá trình khám phá tri thức mới từ bài học.
Học sinh trình bày, đưa ra những ý kiến trong quá trình khám phá tri thức mới  thì giáo viên phải tôn trọng ý kiến của các em, đưa ra các nhận xét kịp thời và định hướng các em tiếp cận tri thức đúng hướng, đầy đủ. Trong trường hợp ý kiến của các em chưa đầy đủ hoặc xa trọng tâm của kiến thức cần khám phá thì giáo viên là người gợi dẫn và định hướng để các em hình thành kĩ năng tiếp cận tri thức mới đúng hướng, có hiệu quả
2.4. Hoạt động ứng dụng
Vận dụng kiến thức đọc hiểu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn hóa khác tương ứng. Ví dụ: nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa: ở một số nơi trong quá trình đổi mới, hiện đại hóa nhiều vùng theo năm tháng đã thay đổi, không còn lưu giữ được những giá trị tốt đẹp, những vẻ đẹp văn hóa truyền thống vốn có của quê hương xứ sở. Ý kiến của anh/chị như thế nào về vấn đề này?
Sau bài học học sinh có thể về trao đổi thảo luận với gia đình, cộng đồng về việc gìn giữ vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc và nét độc đáo trong những giá trị văn hóa của thôn quê, vùng miền, biết chân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp đó của quê hương xứ sở đừng để nó phai tàn hoặc bị chôn vùi theo thời gian, năm tháng.
Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt đã được rèn luyện và khám phá qua bài học Đây thôn Vĩ Dạ để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa, từ loại, xác định cấu tạo từ…trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống và trong giao tiếp hàng ngày.
2.5. Hoạt động bổ xung
Hoạt động này yêu cầu hoc sinh làm ở nhà: giáo viên giao nhiệm vụ/bài tập về nhà yêu cầu học sinh tìm đọc sách, báo mạng và sưu tầm những tác phẩm văn chương, đặc biệt là thơ viết về Huế nói chung và thôn Vĩ Dạ nói riêng, từ đó nêu cảm nhận về giá trị của những tác phẩm đó.
3.Giáo án thực nghiệm
 
 
 
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
                                          (Tiết 1)                          Hàn Mặc Tử
 

  1. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

Giúp học sinh:
Về kiến thức:
– Nắm được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử.
– Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ nói chung và của khổ thơ đầu nói riêng: khổ thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Hơn thế, đó còn là tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống  trần thế và con người.
– Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút pháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.
Về kĩ năng:
– Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình, có thể vận dụng kĩ năng đó vào trong nhiều văn bản mà các em sẽ gặp sau này
– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ trữ tình
Về thái độ, tình cảm:
– Từng bước hình thành lòng yêu mến và trân trọng tài năng thơ ca của Hàn Mặc Tử – Một nhân cách vượt lên nỗi đau của bệnh tật để không ngừng sáng tạo.
– Có ý thức vươn lên vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống qua tấm gương tràn đầy nghị lực sống của Hàn Mặc Tử.

  1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

GV tổ cức giờ dạy theo sự kết hợp các phương pháp: đọc tái hiện, nêu vấn đề, gợi tìm, đàm thoại, trao đổi thảo luận nhóm và diễn gảng thuyết trình
 

Bản quyền bài viết này thuộc về https://thptxuyenmoc.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
  1. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU

– SGK Ngữ văn 11, tập hai
– SGV Ngữ văn 11, tập hai
– Tư liệu tham khảo
– Thiết kế bài học
– Thiết kế giáo án điện tử bằng ứng dụng Powerpoint để giảng dạy cho HS. Các tranh ảnh, vedioclip sẽ được chuyển thành file hình ảnh, âm thanh và trình chiếu trên phần mềm điện tử.

  1. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
  2. Ổn định tổ chức
  3. Kiểm tra bài cũ

Nhận xét nào sau đây là đúng về Hàn Mặc Tử?

  1. Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới
  2. Nhà thơ lạ nhất trong các nhà thơ mới
  3. Nhà thơ quen nhất trong các nhà thơ mới
  4. Nhà thơ cổ điển nhất trong các nhà thơ mới
  5. Nội dung bài mới

Lời vào bài:
Hàn Mặc Tử là một thi sĩ tài hoa của văn học Việt Nam hiện đại nói chung và của thơ mới nói riêng và cũng là một trong những nhà thơ bất hạnh nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Tuy cuộc nhân duyên giữa thi sĩ tài hoa này với Thơ mới chỉ vỏn vẹn 9 năm nhưng cũng đủ để hồn thơ ấy thăng hoa thành một ngôi sao sáng trên thi đàn dân tộc. Tiết học hôm nay, thầy trò chúng ta sẽ cùng nhau khám phá thế giới thơ của Hàn Mặc Tử qua  bài Đây thôn Vĩ Dạ

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu phần tiểu dẫn SGK.
Thao tác 1: Tìm hiểu về tác giả.
– Trên cơ sở phân chia nhóm và giao bài tập hoạt động nhóm về nhà, HS đã chuẩn bị bài ở nhà, có những hiểu biết nhất định về cách trình bày sơ đồ tư duy về một tác giả, GV yêu cầu một nhóm cử đại diện
trình bày sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử ? 
 
 
 
 
 
HS các nhóm còn lại tham ra nhận xét phần thảo luận của nhóm trình bày
 
 
GV nhận xét, bổ xung, mở rộng và chốt lại kiến thức
 
 
 
 
Thao tác 2: Tìm hiểu những nét khái quát về bài thơ.
GV hướng dẫn HS đọc đoạn cuối phần tiểu dẫn SGK và trả lời câu hỏi:
– Trình bày xuất xứ của bài thơ?
– Hoàn cảnh ra đời bài thơ có gì đặc biệt?
GV nhận xét bổ sung, mở rộng vấn đề và sau đó chốt lại kiến thức
GV hướng dẫn HS tìm hiểu về âm điệu và đề tài của bài thơ bằng các câu hỏi trắc nghiệm
1. Dòng nào nhận xét đúng về âm điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?
a. Trầm hùng, bi phẫn trang trọng
b. Hào sảng, khoan thai dõng dạc
c. Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải
d. Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào
2. Đề tài của bài thơ là:
a. Tình yêu thiên nhiên
b. Tình yêu quê hương đất nước
c. Tình yêu lứa đôi
d. Cả A, B,C
 
GV yêu cầu HS đọc bài thơ theo âm điêu vừa tìm hiểu. GV nhận xét và đọc mẫu.
HS trả lời câu hỏi:
– Em hãy xác định bố cục của bài thơ?
 
Hoạt động 2: GV hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản.
Thao tác 1: Đọc – hiểu khổ thơ  đầu.
GV yêu cầu HS đọc khổ 1 làm việc nhóm và trình bày
Xác định Hình thức? Sắc thái? Chủ thể trữ tình trong câu thơ đầu?
 
 
 
 
GV bổ sung, nhấn mạnh
 
 
 
 
GV nêu câu hỏi thảo luận và phát phiếu trả lời cho từng nhóm.
– Bức tranh thôn Vĩ trong hoài niệm của thi nhân hiện lên như thế nào?
 
– Xác định hình thức nghệ thuật và tác dụng của hình thức nghệ thuật ấy?(từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ)
 
– Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên qua chi tiết nào? sức gợi của chi tiết đó? Từ bức tranh ngoại cảnh em hiểu gì về cảm xúc của thi nhân?
 
 
 
 
 
 
HS các nhóm thảo luận sau đó cử đại diện trình bày. Nhóm đại diện trình bày, các nhóm còn lại nhận xét bổ sung
 
 
 
 
 
 
GV nhận xét, bổ xung và chốt lại kiến thức
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
a. Cuộc đời
– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí
– Quê quán: làng Lệ Mĩ, huyện Phong Lộc, nay thuộc TP. Đồng Hới (Quảng Bình), xuất thân trong một gia đình công giáo nghèo.
– Ông có một số phận đau thương và bất hạnh đến nghiệt ngã.
+ Cha mất sớm, ông ở với mẹ tại Quy Nhơn.
+ Năm 24 tuổi, ông mắc bệnh phong. Ông về hẳn Quy Nhơn để chữa trị.
+ Ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ(28 tuổi)
Những nghiệt ngã của số phận đã ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ của ông.
b. Sự nghiệp sáng tác
– Ông là nhà thơ lạ nhất trong phong trào thơ mới.
– Ông là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới.
– Phong cách thơ hàn Mặc Tử: Thơ Hàn Mặc tử là một thế giới nghệ thuật kì dị. Ở đó có sự đan xen, biến hóa của nhiều hình ảnh phức tạp, bí ẩn. Tuy nhiên đằng sau thế giới hình ảnh đó là một tâm hồn tràn ngập tình yêu đời, chan chứa khát khao sống.
– Tác phẩm chính : Gái quê (1936); Thơ Điên (Đau thương) (1938); Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên (1939); Duyên kì ngộ (kịch thơ 1939); Quần tiên hội (kịch thơ 1940); Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi 1940).
2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác
 
– Bài thơ được sáng tác năm 1938, in trong tập “Thơ điên”, phần “Hương thơm”.
– Ban đầu bài thơ có tên : Ở đây thôn Vĩ Dạ, về sau đổi lại thành Đây thôn Vĩ Dạ.
– Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp vẽ phong cảnh Huế có hình người chèo đò trên sông Hương với lời thăm hỏi chúc thi sĩ mau bình phục của Hoàng Thị Kim Cúc – một cô gái ở thôn Vĩ Dạ gửi cho Hàn Mặc Tử, khi tác giả đang dưỡng bệnh ở Quy Hoà
=> Qua đó, ta thấy bài thơ là những dòng kí ức, là nỗi nhớ khôn nguôi về một miền đất xa vời.
 
 
 
 
b. Âm điệu bài thơ
– Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải
 
 
c. Đề tài bài thơ
– Sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi
 
d. Bố cục
Bài thơ gồm 3 khổ thơ:
Khổ 1: Cảnh nhà vườn xứ Huế vào buối sáng
Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng và tâm trạng ngóng trông đầy khắc khoải của nhà thơ
Khổ 3: Hình bóng con người cùng những hoài nghi, mơ tưởng trong tâm trạng của thi nhân.
 
II. Đọc – hiểu văn bản
1.  Khổ 1
* Câu thơ mở đầu
“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
– Hình thức: câu hỏi tu từ
– Sắc thái biểu cảm: + Hỏi han
+ Mời mọc
+ Trách móc
– Chủ thể trữ tình: tác giả
=> là sự phân thân tác giả: thể hiện sự băn khoăn, day dứt trong tâm trạng của thi nhân.
=> Câu hỏi thể hiện một ước ao được trở về thôn Vĩ trong sự mặc cảm và bất lực. Câu thơ còn được xem như một lời mở đầu, một cái cớ để nhà thơ có thể đưa hồn mình về với thôn Vĩ một cách thật tự nhiên.
* Ba câu thơ tiếp
@ Cảnh thôn Vĩ:
Nắng hàng cau
+ Cau là cây cao nhất, cây đầu tiên đón ánh nhắng trong vườn-> tinh khôi
+ Nắng rọi vào sương trên những lá cau, tạo thành sự hoà phối giữa màu và ánh->vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi.
+ Thân cau, bóng cau là những nét mảnh mai-> thanh thoát
-> Thân cau thẳng tắp và chia những đốt đều đặn, hiện lên như cây thước để đo mực nắng của thiên nhiên
+ “Nắng mới lên”: cái nắng đầu tiên của một ngày-> tinh khôi, trong trẻo
-> lặp lại từ “nắng” như nhấn mạnh một hình ảnh ám ảnh và đầy ấn tượng trong lòng nhà thơ, đồng thời khái quát nét đặc trưng của nắng miền trung
=> nắng tràn ngập, hàng cau tắm mình trong biển nắng mai.
– vườn ai: gợi cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu.
mướt quá vừa là một sự cực tả cái vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi, vừa thể hiện giọng điệu trữ tình mê đắm, say sưa.
xanh như ngọc là một hình ảnh so sánh rất tự nhiên, giản dị
=> gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát và sang trọng. Hình ảnh so sánh này còn gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú của làng quê này.
@ Người thôn Vĩ
– Hình ảnh mặt chữ điền có nhiều cách hiểu:
+ Mặt một người con gái xứ Huế
+ Mặt một người con trai, có thể là chính tác giả
+ Khuôn mặt của người xứ Huế nói chung.
+ Bức bình phong trước cửa ngôi nhà ở xứ Huế
=>  nhà thơ muốn diễn tả một vẻ đẹp hài hòa giữa sự thanh tú, mềm mại ( lá trúc) và sự vuông vức, đầy đặn (mặt chữ điền)
=> thể hiện mối quan hệ người – cảnh , gợi vẻ đẹp kín đáo, e ấp.
– Cảnh vật trong khổ thơ đầu toát lên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết, trong sáng tràn đầy sức sống và e ấp có sự hài hòa giữa cảnh và người nhưng cũng có vẻ hờ hững, xa xôi điều đó càng làm tăng thêm nỗi ước ao và niềm đắm say mãnh liệt được trở về với những kỉ niệm đã qua ở mảnh đất này.
 
 
 

 

  1. Củng cố :

GV phát phiếu cho HS làm bài tập trắc nghiệm
Câu 1: Bài thơ Đây thôn Vĩ được giới thiệu, miêu tả theo trình tự nào?

  1. Khái quát – Cụ thể, Cao – Thấp
  2. Cụ thể – Khái quát, Thấp – Cao
  3. Quá khứ – Hiện tại, Thấp – Cao
  4. Hiện tại – Quá khứ, Cao – Thấp

Câu 2 : Nhận xét nào sau đây là đúng với thôn Vĩ?

  1. Tươi tắn, trong trẻo, tràn đầy ánh sáng, âm thanh
  2. Trong trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống
  3. Thanh nhẹ, thơ mộng, man mác buồn thương
  4. Tươi tắn, nhộn nhịp, tràn đầy xuân sắc

Câu 3 : Nhận xét nào đúng với cách miêu tả người thôn Vĩ?

  1. Chi tiết, cụ thể, rõ nét
  2. Tập trung miêu tả hình dáng
  3. Khắc hoạ nét thần thái
  4. Chú ý tính cách

Câu 4: Một trong nhưng nỗi niềm mà thi nhân gửi gắm qua khổ 1 là gì?

  1. nỗi nhớ người yêu da diết
  2. khát khao được trở về, tắm mình trong vẻ đẹp của thôn Vĩ
  3. thể hiện tâm trạng tiếc nuối những gì đã qua

Câu 5: Những hình ảnh sử dụng trong khổ thơ đầu có đặc điểm:

  1. Giản dị, gần gũi, đậm chất dân gian
  2. Táo bạo, hiện đại, tạo cảm giác mạnh
  3. Trang trọng, hàm xúc, mang đậm màu sắc cổ điển
  4. Giàu sức gợi, mang màu sắc tượng trưng
  5. Dặn dò

GV hướng dẫn HS tìm hiểu hai khổ thơ còn lại của bài thơ ở nhà và chuẩn bị bài học trước khi đến lớp.

  1. RÚT KINH NGHIỆM

– Giáo viên nên chốt nhanh kiến thức phần tìm hiểu chung sau khi học sinh đã trình bày sản phẩm hoạt động nhóm.
– Quá trình trình chiếu nên chậm hơn để HS vừa tích cực xây dựng bài vừa ghi lại được nội dung cơ bản của bài học.
 
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
                                          (Tiết 2)                          Hàn Mặc Tử
 

  1. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

Giúp học sinh:
Về kiến thức:
– Nắm được những nét cơ bản về tài năng của Hàn Mặc Tử qua hồn thơ độc đáo của một tâm hồn yêu đời yêu cuộc sống tha thiết.
– Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ nói chung và của khổ thơ thứ hai và khổ thơ thứ ba nói riêng.
– Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút pháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.
Về kĩ năng:
– Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình, có thể vận dụng kĩ năng đó vào trong nhiều văn bản mà các em sẽ gặp sau này
– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ trữ tình
Về thái độ, tình cảm:
– Từng bước hình thành lòng yêu mến và trân trọng tài năng thơ ca của Hàn Mặc Tử – Một nhân cách vượt lên nỗi đau của bệnh tật để không ngừng sáng tạo.
– Có ý thức vươn lên vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống qua tấm gương tràn đầy nghị lực sống của Hàn Mặc Tử.

  1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

GV tổ cức giờ dạy theo sự kết hợp các phương pháp: đọc tái hiện, nêu vấn đề, gợi tìm, đàm thoại, trao đổi thảo luận nhóm và diễn gảng thuyết trình

  1. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU

– SGK Ngữ văn 11, tập hai
– SGV Ngữ văn 11, tập hai
– Tư liệu tham khảo
– Thiết kế bài học
– Thiết kế giáo án điện tử bằng ứng dụng Powerpoint để giảng dạy cho HS. Các tranh ảnh, vedioclip sẽ được chuyển thành file hình ảnh, âm thanh và trình chiếu trên phần mềm điện tử.

  1. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
  2. Ổn định tổ chức
  3. Kiểm tra bài cũ
  4. Nội dung bài mới

 

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt.
 
* Hoạt động 1: Hướng dẫn HS Đọc – hiểu khổ 2
– Trước khi vào khám phá tri thức trong khổ 2 và khổ 3, GV giới thiệu lại kết cấu bài giảng và những nội dung đã học trong tiết trước.
Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh đã có sự chuẩn bị bài ở nhà, GV yêu cầu lần lượt các nhóm trình bày sản phẩm của mình.
Nhóm 1: Không gian thiên nhiên hiện lên ở khổ thơ thứ 2 với những hình ảnh nào?
Nhóm 2: Nhận xét về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong khổ thứ hai? Phân tích nét độc đáo trong cách thể hiện của nhà thơ
Nhóm 3: Cảm nhận về cảnh vật và tâm trang thi nhân ở khổ thơ thứ 2?
 
Một nhóm trình bày sản phẩm các nhóm còn lại chú ý lắng nghe sau đó nhận xét bổ sung
GV: sau mỗi phần trình bày của các nhóm GV đưa ra nhận xét sau đó chốt lại kiến thức cần thiết.
 
* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS Đọc – hiểu khổ thơ cuối
 
GV: Phát phiếu học tập và ra bài tập cho HS làm việc theo nhóm, Y/c Hs thảo luận sau đó cử đại diện trình bày sản phẩm của nhóm mình.
Nhóm 1: ở khổ thơ thứ 3 nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình nh­ư thế nào?
Nhóm 2: Những biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong khổ thơ thứ 3
 
Nhóm 3: Nhận xét bút pháp miêu tả trong 3 khổ thơ có gì khác nhau
( Thời gian, không gian, khung cảnh)?
 
 
GV: sau khi các nhóm trình bày, GV nhận xét và chốt lại kiến thức
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
I. Tìm hiểu chung.
 
II. Đọc hiểu văn bản.
1. Khổ thơ 1.
2. Khổ thơ 2.
Gió, mây, sông n­ước, hoa được nhân cách hoá để nói tâm trạng.
– Cái ngược đường của gió, mây gợi sự chia ly đôi ngả -> nỗi đau thân phận xa cách, chia lìa.
à Không gian trống vắng, thời gian như ng­ừng lại, cảnh vật hờ hững với con người.
 
– Hình ảnh thơ không xác định: “Thuyền ai”,  “sông trăng” à Cảm giác huyền­ ảo.
àCảnh đẹp như­ trong cõi mộng.
 
– Câu hỏi tu từ ẩn chứa một nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời cũng chứa đầy nỗi phấp phỏng hoài nghi.
àKhông gian mênh mông có đủ cả gió, mây, sông, n­ước, trăng, hoa  cảnh đẹp như­ng buồn vô hạn.
=>Khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một bức tranh sông Hương nên thơ, huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ. Khổ thơ đã gieo vào lòng người sự cảm thông sâu sắc trước niềm đau của thi nhân.
 
3. Khổ thơ 3.
– Chủ thể: Đầy khát vọng trong tiếng gọi
– Khách thể: hư ảo, nhạt nhoà, xa xôi.
à Câu thơ đầy đam mê, hồi hộp, ng­ưỡng vọng, nh­ưng hụt hẫng, xót xa.
 
– Điệp từ, điệp ngữ,
– Nhạc điệu sâu lắng và buồn mênh mang.
– Câu hỏi lửng lơ nửa nghẹn ngào, nửa trách móc,
à Chân dung nội tâm của tác giả: Khao khát yêu th­ương, đồng cảm.
– Đại từ phiếm chỉ : ai / tình ai ?
à Câu thơ cuối dường như chính là câu trả lời cho câu thơ thứ nhất.
 
 
 
 
 
III. Tổng kết.
 

 
 
 
Khổ 1.
 
 
 
 
 
 
Khổ 2
 
Thế giới thực
-Thời gian: bình minh
Không gian: Miệt v­ườn
àkhung cảnh t­ươi sáng, ấm áp, hài hoà giữa con ng­ười và thiên nhiên.
 
 
 
Thế giới mộng
– Thời gian: đêm trăng
– Không gian: trời, mây, sông, nước
àkhung cảnh u buồn, hoang vắng, chia lìa…
 
Thế giới ảo.
Thời gian: không xác định.
– Không gian: đ­ường xa, sương khói.
-àkhung cảnh hư­ ảo…
 
 
 
 
 
Khổ
3
 
à Khát vọng yêu th­ương, đồng cảm!

 
 
 
 

  1. Củng cố :

GV phát phiếu cho HS làm bài tập trắc nghiệm
Câu 1: Không gian thiên nhiên hiện lên ở khổ thơ thứ 2 với những hình ảnh nào?

  1. Gió, mây, sông, nước, trăng, hoa
  2. Sông, nước, trăng, hoa, Cỏ, cây
  3. Trăng, hoa, cỏ, cây, gió, mây
  4. Gió, nước, cây, hoa, chim

Câu 5: Bút pháp nghệ thuật ở khổ thơ thứ hai là gì?
A Bút pháp tả thực
B Bút pháp ảo hóa
C Búp pháp lãng mạn
D Bút pháp chấm phá
Câu 6: Đại từ phiếm chỉ “Ai” trong khổ 3 được lặp lại mấy lần, và “Ai” chỉ đối tượng nào?
A 1 lần, “Ai” là tác giả
B 1 lần, “Ai người xứ Huế
C 2 lần, “Ai” là tác giả và là người xứ Huế
D 3 lần,   “Ai là tác giả và là người xứ Huế

  1. Dặn dò

GV giao nhiệm vụ cho HS tìm hiểu trước ở nhà bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh và chuẩn bị bài học trước khi đến lớp.

  1. RÚT KINH NGHIỆM

– Giáo viên nên chú ý hơn đến thời gian của tiết học để bố trí phù hợp hơn trong các phần của bài dạy.
– Giáo viên nên chốt nhanh kiến thức các phần sau khi học sinh đã trình bày sản phẩm hoạt động nhóm.
– Quá trình trình chiếu nên linh hoạt hơn để HS vừa tích cực xây dựng bài vừa ghi lại được nội dung cơ bản của bài học.
 

  1. Hiệu quả giảng dạy

– Từ việc đổi mới phương pháp dạy học và qua quá trình đầu tư soạn giáo án, tôi thấy hiệu quả của phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong bài dạy của tôi tăng lên là rõ rệt.
– Hầu hết học sinh hiểu bài và có hứng thú với việc học tập, qua bài học đây thôn Vĩ Dạ các em có thể phát huy được năng lực chủ động, sáng tạo của mình trong việc tiếp nhận tri thức và các em được thể hiện khả năng thuyết trình một vấn đề trước đám đông nên các em cảm thấy thích học.
– Khảo sát  cụ thể qua kết quả học tập của các lớp khối 11 năm trước và năm nay, lớp có áp dụng dạy thực nghiệm và lớp không áp dụng dạy thực nghiệm đã có sự khác biệt
 
Lớp áp dụng dạy thực nghiệm 11A, sĩ số 36 HS ( năm hoc 2015 – 2016)

Điểm giỏi Tỉ lệ Điểm khá Tỉ lệ Điểm TB Tỉ lệ Điểm yếu Tỉ lệ
4 11% 18 50% 13 36% 1 3%

 
Đối chiếu với kết quả năm học 2014 – 2015

Điểm giỏi Tỉ lệ Điểm khá Tỉ lệ Điểm TB Tỉ lệ Điểm yếu Tỉ lệ
2 6% 16 44% 14 39% 4 11%

 
Lớp không áp dụng dạy thực nghiệm

Lớp Điểm giỏi Tỉ lệ Điểm khá Tỉ lệ Điểm TB Tỉ lệ Điểm yếu Tỉ lệ
11D
Sĩ số: 32 HS
2 6% 15 47% 12 38% 3 9%
11H
Sĩ số: 36 HS
2 6% 12 33% 18 50% 4 11%

 
 
 
 
 

  1. Điều kiện và khả năng áp dụng

– Điều kiện áp dụng: Để đề tài được áp dụng phổ biến trong dạy học ngữ văn ở trường THPT cần có sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cấp quản lý giáo dục và cần sự nỗ lực, cố gắng hết mình của giáo viên giảng dạy với sự kết hợp của công nghệ thông tin và kiến thức liên môn. Trong quá trình thực hiện đòi hỏi giáo viên  cần phải nhiệt huyết với nghề, đầu tư nghiên cứu tìm tòi, vận dụng và rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giờ dạy của mình.
– Khả năng áp dụng: đề tài được áp dụng trong quá trình giảng dạy đây thôn Vĩ Dạ trong sách ngữ văn 11 THPT, ngoài ra có thể sử dụng phương pháp này vào giảng dạy một số tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn THPT.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Đường, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 Tập 2, NXB Hà Nội – 2008
  2. Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Trọng Hoàn, Giới thiệu giáo án Ngữ văn 11 – Tập 2, NXB Hà Nội – 2007
  3. Lê Bá Hán (chủ biên), Tinh hoa thơ Mới thẩm bình và suy ngẫm, NXBGD. H.1998.
  4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, H.2000
  5. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Sách giáo viên Ngữ văn 11 Tập 2, NXB GD, H.2007
  6. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Sách giáo viên nâng cao Ngữ văn Tập 2, NXB GD, H.2007
  7. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Tập 2, NXB GD, H.2013
  8. Nguyễn Đăng Mạnh, Những bài giảng về tác gia văn học tập 2, NXB ĐHQG, H.1999.
  9. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học lớp 11 nâng cao, NXBGD, H.2007.
  10. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao thơ Mới, NXBGD, H.2003.
  11. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 nâng cao, tập 2, NXBGD, H. 2007.
  12. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H.1999.

13.Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn – Bộ giáo dục đào tạo – năm 2014.
 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI DẠY ĐÂY THÔN VĨ DẠ
 MÔN: Ngữ văn
Tài liệu sưu tầm
Xem thêm : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn 
Tuyển tập đề thi, những bài văn hay về Đây thôn Vĩ Dạ
 

,

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *