Sáng kiến kinh nghiệm : Chi tiết trong tác phẩm tự sự

Nội dung sáng kiến

  1. Giải pháp cũ thường làm

Trước đây, khi đọc hiểu văn bản văn học, đôi khi chúng ta chỉ tìm hiểu khái quát đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Vì vậy, những lớp trầm tích ý nghĩa và nhiều phương diện nghệ thuật của tác phẩm chưa được phát lộ.
Cùng với bước tiến của lý luận, khi phân tích tác phẩm tự sự hiện đại theo đặc trưng thể loại, chúng ta đã đi sâu tìm hiểu nhân vật, tình huống truyện, kết cấu, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ… mà chưa chú ý đúng mức đến chi tiết nghệ thuật. Vì vậy, bài giảng nhiều khi rơi vào khô khan, thiếu sinh động, hấp dẫn. Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, chúng tôi thấy một nhược điểm phổ biến là nhiều bài viết của học sinh thường khá hời hợt, rơi vào cảm nhận chung chung, xa rời văn bản và những chi tiết cụ thể, đặc sắc của tác phẩm.
Như vậy, khi không chú ý khai thác ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự, cả bài giảng của giáo viên và bài luận của học sinh đều không đạt hiệu quả cao.

  1. Giải pháp mới cải tiến

          Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong tác phẩm tự sự. Chi tiết trong tác phẩm tự sự có sức nặng như những “nhãn tự” trong một bài thơ tứ tuyệt. Vì vậy, khi phân tích tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại, tìm được những chi tiết đắt giá chúng ta đã có trong tay chìa khóa để mở ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Trong quá trình thực hành làm văn của học sinh, những bài viết biết khai thác các chi tiết nghệ thuật thường mới mẻ, sâu sắc, thể hiện sự sáng tạo riêng của các em. Vì mỗi chi tiết nghệ thuật được ví như là mạch máu, là tế bào của tác phẩm.
Trong những năm gần đây, xu hướng ra đề trong các kì thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng,.. phần tái hiện kiến thức đã được thay thế bằng câu hỏi về những chi tiết cụ thể trong tác phẩm, và yêu cầu học sinh phải cảm nhận được vẻ đẹp, ý nghĩa của chi tiết đó.
Từ những lí do trên, chúng tôi thấy việc tìm hiểu về chi tiết trong tác phẩm tự sự có ý nghĩa quan thiết.

  1. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được

Là một giáo viên dạy văn cấp THPT, tìm hiểu chi tiết trong tác phẩm tự sự, cũng là một cách người viết tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hơn nữa, chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ giúp học sinh tìm được một con đường đi hiệu quả, để khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong những truyện ngắn đặc sắc của các nhà văn lớn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để người viết được trao đổi với đồng nghiệp về một vấn đề quan trọng trong đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
Chúng tôi đã vận dụng sáng kiến này để ôn thi tốt nghiệp THPT, luyện thi đại học, ôn thi học sinh giỏi tỉnh, thi Ôlimpic Đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ, bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia… và đã đạt được những kết quả khả quan.

  1. Điều kiện và khả năng áp dụng

          Nội dung sáng kiến này có thể vận dụng rộng rãi với tất cả học sinh THPT, với mục đích nâng cao hiệu quả học tập môn Ngữ văn.
 
PHỤ LỤC

CHƯƠNG I: CHI TIẾT VÀ VIỆC KHAI THÁC CHI TIẾT TRONG TRUYỆN NGẮN

  1. Chi tiết trong tác phẩm văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, chi tiết nghệ thuật là: “Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng”. Cũng theo nhóm tác giả này thì: “Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định.” (2)
Như vậy, chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của nhà văn. Đối với người đọc khi nhận biết được các chi tiết đắt giá trong tác phẩm, chúng ta có thể làm sáng tỏ được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và hiểu rõ ý đồ sáng tạo của nhà văn.

  1. Khai thác chi tiết trong truyện ngắn

2.1. Đặc trưng của truyện ngắn     
Hướng khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
 “Truyện  ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, phản ánh cuộc sống trong tính khách quan của nó thông qua con người, hành vi và các sự kiện. Truyện ngắn đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng.”Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn chỉ là mặt cắt của dòng đời như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ. Chỉ liếc qua những đường vân trên khoanh gỗ tròn kia dù trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu). Do hạn chế về dung lượng câu chữ, nên truyện ngắn không phản ánh được một phạm vi hiện thực rộng lớn như tiểu thuyết, mà chỉ là những câu chuyện trong khoảnh khắc, là giây phút lóe sáng trong cuộc đời nhân vật. Pautốpxki đã nói: “Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường và một cái gì bình thường hiện ra như cái không bình thường”. Vì vậy, khi viết truyện ngắn, nhà văn phải có khả năng quan sát sắc sảo, năng lực khái quát cao độ, để có thể phản ánh được bản chất của con người và đời sống qua một hiện tượng, một biến cố, một lát cắt. Nhà văn phải dồn nén hiện thực và tư tưởng vào trong những chi tiết nghệ thuật có dung lượng ý nghĩa lớn lao như “bàn tay xiết lại thành nắm đấm” (Hêmingway). Vì vậy yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là các chi tiết nghệ thuật.
Tuy nhiên, trong một truyện ngắn, không phải chi tiết nào cũng “mang nhiều ẩn ý”, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn được những chi tiết đắt giá, phân tích làm sáng tỏ ý nghĩa của nó trong việc thể hiện hình tượng, chủ đề tác phẩm và tư tưởng của tác giả. Hơn nữa, theo kinh nghiệm viết truyện ngắn của Vương Trí Nhàn: “toàn truyện phải là một cái vòng khép kín, không dài quá, không ngắn quá, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào. Khi đã vào truyện cái xà tích của một cô gái hay một chút ánh trăng thượng tuần cũng phải có ý nghĩa, cái nọ nương tựa cái kia, chi tiết này soi rọi cho chi tiết khác” (5). Các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm có quan hệ máu thịt với nhau, cho nên khi phân tích chúng ta phải đặt chi tiết đang tìm hiểu trong mối liên hệ khăng khít với các chi tiết khác, trong chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn của tác phẩm.
2.2. Vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn
2.2.1. Xây dựng cốt truyện
          Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, (biến cố) xảy ra trong đời sống của nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật và làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Đối với nhà văn, việc tạo nên cốt truyện là yếu tố đầu tiên của quá trình sáng tạo. Làm nên cốt truyện là các sự kiện. Làm nên sự kiện là các chi tiết. Chi tiết nghệ thuật “đóng vai trò vật liệu xây dựng làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lí” (2).
Cốt truyện “Chí Phèo” hấp dẫn, tình tiết đầy kịch tính và luôn biến hóa, càng về cuối càng gay cấn với những tình tiết quyết liệt, bất ngờ. Nam Cao là người có biệt tài tạo dựng chi tiết cho truyện của mình. Góp phần tạo nên sự thành công cho kiệt tác “Chí Phèo” phải kể đến chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo. Nó đã thúc đẩy cốt truyện phát triển và mở ra bước ngoặt trong cuộc đời của Chí. Sau khi ăn nằm với nhau như vợ chồng, thị Nở thương Chí bị ốm nên đã nấu cháo mang sang cho hắn. Đó là khoảnh khắc lột xác của một con quỷ để trở thành một con người. Đó là giây phút hạnh phúc duy nhất của một kẻ suốt đời bất hạnh. Bát cháo của Thị Nở đã làm tươi lại tâm hồn tưởng như đã hoàn toàn chai sạn của Chí. Bát cháo không chỉ là liều thuốc giải cảm, mà còn là liều thuốc giải độc tâm hồn. Vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho, xưa nay muốn có ăn hắn “phải dọa nạt hay là giật cướp. Hắn phải làm người ta sợ”. Bát cháo đã cho Chí hiểu được một điều giản dị mà xúc động: Hóa ra trên đời này người ta có thể cho nhau ăn. Tình yêu mộc mạc, chân thành của Thị Nở đã đánh thức nhân tính của Chí. Hết “ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt”. Chí Phèo cảm động, rưng rưng nước mắt, có lẽ sau tiếng khóc chào đời hôm nay Chí Phèo mới biết khóc. Với Nam Cao, nước mắt chính là giọt nhân tính, chỉ có những người giàu nhân phẩm, có nhân tính mới biết khóc. Trong lòng Chí trào dâng bao cảm xúc của con người: “bâng khuâng”, “vừa vui vừa buồn. Và một cái gì nữa giống như là ăn năn”. Chí sám hối vì những việc mình đã làm trong hai mươi năm qua. Lần đầu tiên trong đời Chí thấy cháo hành ăn rất ngon. Thị Nở đã giúp anh cảm nhận được hương vị của tình yêu, tình bạn, tình mẹ. Chí thấy “lòng thành trẻ con…muốn làm nũng với thị như với mẹ”, cũng khao khát được yêu thương, chăm sóc. Và một câu hỏi rất hệ trọng đã day dứt lương tâm anh: “Hắn có thể tìm bạn được sao lại chỉ gây kẻ thù”. Thị Nở bằng một bát cháo hành đã đánh thức bản chất lương thiện của Chí Phèo: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Đó chính là khát vọng được hoàn lương. Mặc dù những giây phút hạnh phúc chỉ lóe lên rồi vụt tắt, nhưng hương vị của cháo hành mãi ám ảnh Chí, giúp anh chấm dứt những cơn mê muội dài mênh mông, sưởi ấm trái tim Chí để anh có đủ dũng cảm kết liễu kiếp sống của một con quỷ và bảo toàn thiên lương của một con người chân chính. Chỉ bằng một chi tiết nhỏ nhưng nhà văn đã dồn vào đó cả triết lý sâu sắc của mình: tình yêu có sức mạnh cảm hóa kì diệu, và con người hãy sống với nhau bằng tình yêu thương. Đồng thời, qua chi tiết này, Nam Cao cũng thể hiện niềm tin bất diệt vào bản chất tốt đẹp của người lao động, cái phần NGƯỜI trong mỗi người lao động đâu có thể tước đi một cách dễ dàng. Nếu không có chi tiết này, có lẽ “Chí Phèo” chỉ đơn thuần là câu chuyện về sự tha hóa biến chất của con người. Chi tiết bát cháo hành đã thúc đẩy cốt truyện phát triển tự nhiên, hấp dẫn và tạo nên bước ngoặt bất ngờ, làm tỏa sáng chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao.
2.2.2. Chi tiết nghệ thuật đã tạo nên cách mở đầu hấp dẫn cho câu chuyện
Bàn về cách viết truyện ngắn, nhà văn Sêkhốp có phát biểu: “Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” (Theo “Sêkhốp bàn về văn học”). Nhà văn phải dụng công để tạo nên một cách mở đầu thật độc đáo, ấn tượng, thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ những dòng đầu tiên. Kiệt tác “Chí Phèo” của Nam Cao thật đặc sắc khi mở ra bằng chi tiết tiếng chửi của Chí. Đây là cách giới thiệu trực tiếp nhân vật và mở đầu không theo trình tự thời gian mà đi thẳng vào giữa truyện. Chi tiết tiếng chửi là một dụng công rất lớn của Nam Cao. Cách chửi của nhân vật khá độc đáo: “Bắt đầu hắn chửi trời… Rồi hắn chửi đời… Chửi ngay tất cả làng Vũ Đại… chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn…”. Thoạt đầu Chí chửi vu vơ, sau đó thu hẹp dần đối tượng và cuối cùng bất ngờ chửi “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn...”. Hắn chửi người đẻ ra mình, tức là chửi chính mình, chửi số kiếp mình. Cả làng Vũ Đại không ai biết “đứa chết mẹ nào” đã đẻ ra Chí Phèo, nhưng nhà văn Nam Cao biết: Đẻ ra Chí Phèo bằng xương bằng thịt là một người đàn bà bất hạnh, còn đẻ ra hiện tượng Chí Phèo là cả cơ chế xã hội bất công thối nát đương thời, ở đó chất độc nằm ngay trong sự sống. Chí Phèo chửi cả làng với hi vọng được ai đó chửi lại, tức là hắn khao khát được giao cảm với mọi người. Nhưng tín hiệu giao tiếp phát đi liên tục, lại chỉ gặp sự im lặng đến đáng sợ. Ngay từ đầu tác phẩm Chí Phèo đã rơi vào tình trạng hoàn toàn cô độc, không ai giao tiếp với hắn dù là bằng hình thức thấp kém nhất: chửi nhau: “chửi rồi lại nghe”, “chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu”. Tiếng chửi đã thể hiện tâm trạng bi phẫn, bất mãn, một trái tim đau đớn, vật vã, giằng xé, một tâm hồn tuyệt vọng khi bị xã hội khai trừ, bị cự tuyệt quyền làm người. Chi tiết này đã hé mở tình trạng bi đát của thân phận Chí Phèo. Tiếng chửi được thể hiện trong một đoạn văn đa giọng điệu: ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, ngôn ngữ của người kể chuyện hòa lẫn vào ngôn ngữ của nhân vật, tạo ra ngôn ngữ nửa trực tiếp. Nhà văn như đã hóa thân vào nhân vật, đồng cảm và nói hộ nỗi đau của thân phận Chí Phèo. Đằng sau cách gọi Chí là “hắn” đầy lạnh lùng là cả một trái tim trĩu nặng yêu thương của Nam Cao.
2.2.3. Chi tiết nghệ thuật là yếu tố quan trọng tạo nên tình huống truyện
          Tình huống là một trong những thành tố cấu trúc nên truyện ngắn hiện đại. Một trong những khâu quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn là sáng tạo tình huống truyện độc đáo. Mỗi truyện ngắn thường được kết cấu xoay quanh một tình huống. Tình huống là một biến cố, một sự kiện trong đời sống được nhà văn lạ hóa để làm nổi rõ bản chất thật của con người, sự việc, qua đó, tác giả gửi gắm tư tưởng tình cảm của mình. Bởi vậy, tình huống giống như một thứ thuốc rửa ảnh làm nổi bật lên chân dung của nhân vật và tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Tình huống truyện được hình thành bởi hệ thống các chi tiết nghệ thuật có quan hệ biện chứng với nhau.
Tình huống trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là tình huống độc đáo, giàu chất thơ, man mác buồn, một tình huống bình dị mà sâu xa như đời sống: Cuộc sống nơi phố huyện tất cả đều tàn lụi nhưng có một thứ không tàn: đó là khát vọng được đổi thay, được sống khác của những cư dân tội nghiệp sống trong phố huyện nghèo. Tuy phải sống một cuộc sống nghèo khổ, tối tăm, lay lắt, nhưng đêm nào họ cũng cố thức chờ chuyến tàu từ Hà Nội về, để gửi gắm mơ ước về một cuộc sống tươi sáng hơn. Tình huống truyện này đã được tạo nên từ những chi tiết về thời gian tàn, không gian tàn, những kiếp đời tàn, những đồ vật tàn…. Thời gian tàn từ chiều tà đi dần vào đêm khuya. Chỉ cần qua một buổi chiều, một lát cắt của thời gian, ta có thể cảm nhận mọi buổi chiều trong nhịp sống của phố huyện. “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru…”. Âm điệu câu văn mở đầu chậm rãi, như ngân như ru lòng người vào một nỗi niềm bâng khuâng, mơ hồ, man mác. Câu văn được cất lên qua giọng điệu của Liên, hòa cùng sự ngậm ngùi của tác giả. Đó là một tiếng kêu thảng thốt, một tiếng thở dài não nuột của một tâm hồn già nua trước tuổi. Thế là một buổi chiều nữa của đời Liên lại về. Đó là khoảnh khắc Liên phải đối mặt và cảm nhận được sâu sắc nhất sự nghèo nàn, ảm đạm của phố huyện. Và để cho không khí tàn lụi đọng thành một ấn tượng đậm nét, nhà văn đã chọn không gian tàn với âm thanh, cảnh vật, màu sắc đều tàn lụi. Trong bức tranh khung cảnh, gợi cảm nhất là chi tiết: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những áng mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, cảnh vật như đang lóe sáng lên lần cuối cùng trước khi tàn úa. Hình ảnh mặt trời đỏ ối sắp tắt là biểu tượng của một ngày tàn, là khoảnh khắc hấp hối của vũ trụ, hay là của chính miền quê này? Về màu sắc, gam màu đen bao trùm cả không gian. Bóng tối là một chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh đè nặng lên cảnh vật và con người. Không dưới ba mươi lần hình ảnh bóng tối xuất hiện, như một cái gì hãi hùng đang xâm lấn, luồn lách vào mọi cảnh vật, bủa vây mọi con người. Nó tạo nên không gian đen đặc cho bức tranh phố huyện. Bóng tối trở thành nỗi ám ảnh về một cuộc sống tối tăm, bế tắc, ngao ngán. Đối lập với bóng tối là những chi tiết về ánh sáng. Ánh sáng được miêu tả rất khe khắt, hiếm hoi và đơn độc, chỉ là những khe sáng, hột sáng, quầng sáng, vệt sáng, chấm lửa,… không đủ để soi sáng không gian, mà còn tô đậm thêm bóng đêm đậm đặc, mênh mông của phố huyện. Nếu như ánh sáng, âm thanh là biểu tượng của sự sống, thì bóng tối, sự tịch mịch là biểu tượng của hư vô, của cái chết. Cuộc sống hiện tại của chị em Liên là phố huyện ngập chìm trong đêm tối, nghĩa là sự sống đang hụt hơi, hấp hối như một miền đời quên lãng, một vùng đất chết, thiếu vắng sự sống.
Bức tranh phố huyện càng buồn hơn khi nhà văn góp vào cái giờ khắc của ngày tàn một phiên chợ vãn, với những chi tiết tưởng như vu vơ nhưng lại chứa đầy dụng ý của nhà văn. Trên đất chỉ còn lại những rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía. Ảm đạm nhất là chi tiết: “Một mùi âm ẩm bốc lên”, đó là mùi của sự tàn rữa. Trung tâm của bức tranh phố huyện là những mảnh đời nhỏ bé, âm thầm trong cuộc sống tối tăm, quẩn quanh, bế tắc. Những kiếp đời ấy làm nên gương mặt âm u của phố huyện. Làm nên cuộc sống của họ là những đồ vật tàn: một ngôi quán ọp ẹp, vách dán giấy nhật trình, một cái chõng tre sắp gãy, một manh chiếu rách, chiếc chậu sắt rúm ró,… Qua bức tranh phố huyện trong cảnh ngày tàn, với thời gian tàn, không gian tàn, kiếp người tàn lụi, tác giả thể hiện tiếng nói xót thương cho những kiếp người bé nhỏ, sống cuộc sống vô danh, vô nghĩa, quẩn quanh. Bao trùm lên bức tranh phố huyện là một vẻ tàn lụi, tăm tối, sự sống dường như đang từng ngày lìa bỏ nơi này. Nhưng có một thứ không tàn, đó là niềm hy vọng của con người về một tương lai tươi sáng hơn: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. Và khao khát vượt ra khỏi cuộc sống mòn mỏi ấy được thể hiện rất rõ qua tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ.
Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng đoàn tàu theo trình tự thời gian, qua tâm trạng chờ trông của Liên và An. Chúng ta không thể bỏ qua được những chi tiết về đoàn tàu như: ánh sáng rực rỡ, lấp lánh chốn thị thành, át đi ánh sáng mờ ảo, yếu ớt của phố huyện. Âm thanh náo nhiệt, tưng bừng đối lập với những thanh âm buồn tẻ, đơn điệu của phố huyện. Đoàn tàu đã mang đến một thế giới khác lạ, nó khuấy động không gian phố huyện, làm cho con người nơi đây trong chốc lát quên đi hiện thực tăm tối, để sống với ước mơ.  Thạch Lam đã nhìn thấy trong hành động đợi tàu của hai đứa trẻ chứa đựng một khao khát không phải của riêng hai đứa trẻ và không phải của một thời, mà của mọi thời. Đó là khát khao đổi đời, cần phải thay đổi thế giới tăm tối này đi, đem đến một thế giới khác, ở đó ai cũng có quyền được sống trong hy vọng, chứ không phải là tàn đi trong vô vọng.
Như vậy, mọi chi tiết trong tác phẩm đều hội tụ, xoay xung quanh tình huống truyện và góp phần thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác giả.
2.2.4. Vai trò của chi tiết trong việc xây dựng hình tượng nhân vật
Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong tác phẩm tự sự, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực, và “gửi gắm tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình về cuộc đời”. Nhân vật là “con đẻ tinh thần của nhà văn”. Hình tượng nhân vật trở nên sinh động, gợi cảm là nhờ các chi tiết. “Chi tiết (…) cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng (…). Do đó chi tiết rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sức hấp dẫn, thú vị, vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng.” (7). Mỗi nhân vật là một sinh thể toàn vẹn được tạo nên bởi các chi tiết có quan hệ máu thịt với nhau: các chi tiết về ngoại hình (Chí Phèo: khuôn mặt, đầu, răng, mắt, quần áo, …); các chi tiết về hành động (Chẳng hạn với Chí Phèo là những hành động: chửi, say, ăn vạ, đến với thị Nở, đòi lương thiện, giết bá Kiến, tự sát.); các chi tiết về nội tâm (tâm trạng của Chí Phèo từ khi gặp Thị Nở, …); các chi tiết về ngôn ngữ (Chí Phèo: tiếng chửi, những lời nói tỏ tình với Thị Nở, tiếng nói đòi lương thiện,…); các chi tiết về mối quan hệ giữa các nhân vật và giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh, các mối quan hệ này bộc lộ địa vị, tính cách, và số phận của nhân vật (Chí Phèo: quan hệ với bá Kiến, thị Nở, với hoàn cảnh xã hội của làng Vũ Đại,…)
Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, tôi đặc biệt ấn tượng với nhân vật người “Vợ nhặt” mà tác giả đã dồn bao tinh hoa và tinh huyết để xây dựng nên. Thị là nạn nhân khốn khổ nhất của cái đói. Thân phận bất hạnh đó được gợi lên từ một loạt những chi tiết nghệ thuật đặc săc. Chi tiết về tên gọi, người đàn bà này, thậm chí đến cái tên riêng cũng không có, nhà văn gọi thị là “thị” hoặc “người đàn bà“. Đằng sau cuộc đời của chị, còn thấp thoáng bóng dáng của bao người phụ nữ khốn cùng khác. Thương cảm hơn là những chi tiết về ngoại hình. Cái đói đã tàn phá dung nhan của thị, có mấy ngày không gặp mà Tràng thấy thị gầy guộc “trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt”, xấu xí, rách rưới “quần áo tả tơi như tổ đỉa”. Nạn đói giống như một cơn lũ lớn cuốn phăng đi tất cả, không chỉ đe dọa cướp đi cuộc sống về mặt sinh học, mà nó còn làm cho tính cách của thị cũng thay đổi. Nữ tính, nhân phẩm của thị cũng có nguy cơ bị mai một. Biết bao trăn trở, xót xa của nhà văn được dồn tụ trong những chi tiết miêu tả về lời nói và hành động của thị lúc này. Thị trở nên trơ tráo, ăn nói “chao chát, chỏng lỏn“, mất hết ý tứ và lòng tự trọng. Tiếng nói khẩn thiết nhất của cô vợ nhặt lúc này là phải duy trì được sự sống. Cô như người sắp chết đuối đang nguy khốn giữa dòng nước xoáy khủng khiếp, cô đang cố gắng túm lấy bất cứ cái gì có thể bấu víu để tồn tại. Câu hò trở thành cái cớ để thị bám vào Tràng. Rồi “thị cong cớn … Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”. Thị không còn biết xấu hổ khi trách móc một người không quen biết: “Thị sầm sập chạy đến… sưng sỉa nói… Điêu… Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt”. Rồi thị còn trắng trợn “gạ ăn”: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”. Khi Tràng tỏ ra ga lăng “đấy muốn ăn gì thì ăn”, thì lập tức “hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên…. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Cái đói đã làm cho con người trở nên thảm hại, đáng thương và cũng đáng được cảm thông, chia sẻ.
Nhưng điều đáng quý đã làm nên chất thơ cho hiên thực đắng cay này đó là, sau khi nguy cơ chết đói đã qua, cô gái đã trở lại với con người thật của mình, và nữ tính cũng hồi sinh, cô chợt e lệ và xấu hổ. Chi tiết cô ăn xong thị “cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở : hà, ngon !” là chi tiết thể hiện nữ tính của người vợ nhặt. Đó là cách cô gái đánh trống lảng vì ngượng và che giấu sự xấu hổ bên trong. Đặc biệt trên đường về nhà chồng người vợ nhặt đã thay đổi hẳn, trở thành một cô dâu rất đáng yêu, không còn chao chát, chỏng lỏn nữa. Điều đó được thể hiện rõ nét qua những chi tiết về dáng vẻ, lời nói của thị: vì xấu hổ nên nói chuyện trống không với chồng; bước chân “rón rén”, “e thẹn”, “ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”, “đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”, đúng là dáng vẻ của một cô dâu đầy nữ tính. Tấm lòng nhân đạo của Kim Lân thể hiện qua cách ông đã miêu tả rất tỉ mỉ, chi tiết dáng vẻ của người đàn bà trên đường về nhà chồng, từ dáng đi e thẹn cho đến nỗi hờn tủi cho thân phận mình. Ở đây nhà văn đã rất kiên nhẫn lặp đi lặp lại những từ đồng nghĩa. Dường như ông cố minh oan, để trả lại cho người đàn bà khốn khổ bản chất dịu hiền vốn có. Khi về đến nhà, thị “ngượng nghịu”, “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”. Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa. Người đàn bà đã thực sự trở thành một người vợ “hiền hâụ đúng mực“, đảm đang, tảo tần, chịu khó. “Thị” đã đem đến cho ngôi nhà của Tràng một sinh khí mới, một nhịp sống mới. Trong bữa cơm đầu tiên, thị đã “điềm nhiên và vào miệng miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Đây là chi tiết thể hiện sự ý tứ và thái độ đồng cảm, sẻ chia với gia đình nhà chồng của người vợ nhặt. Thông qua một loạt các chi tiết biết nói, nhà văn muốn nhắn gửi tới chúng ta một điều: Hóa ra chính cái đói đã đẻ ra sự liều lĩnh, táo bạo, thô thiển, trắng trợn, nhưng không thể làm mất đi bản chất hiền hậu, tốt đẹp trong tâm hồn con người. Người vợ nhặt vốn là một cô gái nghèo, có tư cách, có khao khát hạnh phúc. Nạn đói đã làm mất đi phần nào tư cách ấy, biến dạng một phần tâm hồn cô, nhưng cuối cùng cô vẫn vươn lên giữ vững tư cách người. Dù bị đẩy đến đường cùng, “thị” vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc. Hành động theo Tràng về làm vợ của người đàn bà, chứng tỏ “thị” luôn tìm mọi cách để vượt lên cái đói, tìm đến sự sống, kể cả phải hành động liều lĩnh. Nhà văn đã mở ra con đường sống cho những kiếp đời khổ cực. Nhân vật vợ Tràng đã thể hiện niềm tin bền vững của Kim Lân vào bản chất tốt đẹp của người lao động.
Như vậy, khi phân tích một nhân vật, chúng ta phải tuân thủ tính hệ thống của các chi tiết nghệ thuật làm nên hình tượng đó. Nhưng mặt khác, giáo viên cũng cần định hướng cho học sinh phát hiện và xoáy sâu vào những chi tiết độc đáo, là điểm sáng mà nhà văn đã rất dụng công khi xây dựng hình tượng. Đến với nhân vật người đàn bà làng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tôi cứ bị ám ảnh bởi chi tiết về nước mắt và nụ cười của chị, về nỗi đau tột cùng và hạnh phúc vô bờ của người phụ nữ này. Lúc dơ lưng chịu những trận đòn “như lửa cháy” của chồng, dù đau đến mấy bà vẫn không hề kêu xin, khóc lóc, nhưng khi đứa con chứng kiến được toàn bộ tấn bi kịch gia đình, chị đã không cầm nổi những giọt nước mắt đau đớn. Sự xuất hiện của đứa con như “một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt”. Làm sao diễn tả được sự tan nát của trái tim người mẹ khi chứng kiến cảnh đứa con mình “nhẩy xổvào bố nó như một con sói con”, “giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực” ông ta. Cái phản ứng tự nhiên của một tâm hồn trẻ thơ thương mẹ, lại khiến cho người mẹ “dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã”. Bà gọi tên con, “ôm chầm lấy nó”, rồi lại buông ra “chắp tay vái lấy vái để rồi lại ôm chầm lấy”. Có phải bà đau đớn vì rốt cuộc đã không sao tránh được cho con cái khỏi bị tổn thương vì bạo lực gia đình. Bà xấu hổ, nhục nhã vì phải giấu giếm con tình trạng khốn khổ của mình, dù bà đã hết sức che chắn. Bà xót xa vì niềm tin trong trẻo của con thơ đã bị rạn vỡ. Bà “vái lấy vái để” đứa con để “tạ tội” với nó, hay cầu xin nó đừng căm thù người cha đẻ của mình, đừng trở nên độc ác như bố nó. Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của người mẹ lúc này? Ẩn sâu trong trái tim đang rỉ máu của người mẹ, là lòng yêu thương con vò xé tâm can. Nước mắt chảy tràn trên gương mặt của người mẹ dường như đã hòa cùng giọt nước mắt xa xót cho thân phận con người của nhà văn?
Bên cạnh những chi tiết buồn về thân phận của người đàn bà. Trong cả thiên truyện chỉ duy nhất một lần nhà văn miêu tả nụ cười của chị: “Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười” khi chị kể về những giây phút vợ chồng con cái được hòa thuận vui vẻ, là “lúc ngồi nhìn đàn con…được ăn no”. Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc rất đời thường, bình dị mà đáng thương, đáng trân trọng. Chị đã phải đánh đổi hạnh phúc ấy bằng bao nỗi đau khổ. Sự yên lành no ấm của đàn con chính là mục đích sống, là nguồn sống của chị – người đàn bà luôn sống cho con. Đó chính là sức mạnh tinh thần kì diệu đã giúp chị vượt qua bao đắng chát chua cay của cuộc đời, để giữ lửa cho gia đình bé nhỏ của mình. Chị kết tinh vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam với trái tim chứa chan bao tình cảm vị tha, thánh thiện, lấy niềm vui, hạnh phúc của chồng con làm hạnh phúc của chính mình. Chỉ có tác giả là người thấu hiểu, người đàn bà làng chài mới là vẻ đẹp đích thực của “Chiếc thuyền ngoài xa”, đẹp trong đau khổ, nhọc nhằn và nhục nhằn – một vẻ đẹp hình như chưa từng thấy trong văn học sử thi 1945 – 1975.
Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy lựa chọn được những chi tiết đắt giá sẽ quyết định thành công của tác phẩm, bởi chúng được chưng cất lên từ tấm lòng và tài năng của người cầm bút.
2.2.5. Chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng khung cảnh
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng tâm niệm: “Văn học và cuộc sống là những vòng tròn đồng tâm, mà tâm điểm là con người”. Trong tác phẩm, hình tượng con người luôn hiện lên sinh động trên một nền cảnh nào đó. Vì vậy, việc xây dựng bối cảnh cho sự xuất hiện của nhân vật được hầu hết các nhà văn quan tâm. Và chi tiết nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên khung cảnh. Trong vấn đề này, chúng ta có thể phân loại chi tiết thành những tiểu loại phong phú: chi tiết về không gian (ánh trăng trong vườn chuối tạo nên khung cảnh thơ mộng, xui khiến hai con người khốn khố Chí Phèo và Thị Nở tìm đến với nhau,…), chi tiết về thời gian (thời điểm đêm tình mùa xuân khơi dậy sức xuân và tình xuân trong tâm hồn Mị …); chi tiết gắn với âm thanh (tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo… những giai điệu giản dị mà thiêng liêng của cuộc sống đánh thức tâm hồn Chí Phèo…), chi tiết gợi tả màu sắc (ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù,..),… Thời gian và không gian, cũng như mọi hiện tượng của thế giới khách quan, khi đi vào tác phẩm đều được soi rọi bằng tư tưởng tình cảm, gắn liền với quan niệm về con người và cuộc đời, với ước mơ lý tưởng và in đậm cá tính sáng tạo của nhà văn.
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, vì không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vật nào không có một nền cảnh của nó. Do đặc trưng của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng nên những chi tiết nghệ thuật tạo dựng nên không gian cũng được nhà văn sàng lọc kỹ càng. Chỉ bằng một vài chi tiết mang đầy ẩn ý, tác giả có thể lột tả được thần thái của không gian và thể hiện tư tưởng của mình. Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân, chắc hẳn chúng ta, ai ai cũng bị ám ảnh bởi khung cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Cho đến tận ngày nay vẫn còn hàng kho tư liệu kể lại rằng xác người chết đói nhiều đến nỗi người ta phải thu gom để đưa đến hố chôn tập thể. Nhưng nhà văn Kim Lân chỉ cần qua một vài chi tiết điển hình nhất mà làm sống dậy được không khí ảm đạm, thê lương của những ngày đói quay đói quắt. Đó là những hình ảnh thương tâm như: Người chết như ngả rạ, xác người chết nằm còng queo bên đường… Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Nghệ thuật so sánh đã vẽ lên chân thực tình cảnh của con người đang chới với trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Điểm vào đó là những chi tiết về âm thanh thê thiết: Tiếng quạ gào lên từng hồi, tiếng hờ khóc ở những nhà có người chết… Cộng hưởng với mùi vị của sự chết chóc: ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người, mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Một không khí thê thảm bao trùm lên xóm chợ, cõi âm và cõi dương đã hòa làm một. Sự hiện hữu của cái đói giống như một thảm hoạ kinh hoàng, một trận cuồng phong, một cơn đại hồng thuỷ ập đến càn quét mọi sinh linh, và cái đói tràn đến đâu ta thấy rõ ngay dấu ấn huỷ diệt của nó. Nhưng có lẽ điều kỳ diệu nhất là trên khung cảnh “tối sầm lại vì đói khát” đó, đôi trẻ vẫn dắt díu nhau về tổ ấm và làm nên một đám cưới nhỏ giữa một đám ma lớn. Điều đó chứng tỏ đôi trẻ này đã can đảm chống lại cái chết bằng sức sống mãnh liệt. Sự sống đã chiến thắng cái chết. Đó chính là thông điệp tươi xanh cất lên từ hiện thực cỗi cằn. Như vậy, qua những chi tiết giàu sức gợi, nhà văn đã phản ánh hiện thực tăm tối của nước ta trong nạn đói năm 1945; đồng thời tố cáo tội ác của phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã đẩy nhân dân ta vào thảm hoạ chết đói, hạ thấp giá trị con người. Cao quý hơn, Kim Lân đã bộc lộ niềm trân trọng khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào sức sống mãnh liệt, vào phẩm giá sáng ngời của người lao động nghèo. Để tạo dựng được những khung cảnh đặc sắc từ những chi tiết nhỏ như vậy, đòi hỏi nhà văn phải trăn trở, lao tâm khổ tứ, chế tạo và sáng tạo.
2.2.6. Chi tiết nghệ thuật góp phần tạo nên kết cấu đặc sắc cho tác phẩm
          Kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm… không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm” (2). Trong tác phẩm văn học chi tiết phải tuân thủ kết cấu. Kết cấu giúp tổ chức chi tiết. Trong nhiều truyện ngắn, nhà văn đã tạo nên được những kết cấu độc đáo nhờ các chi tiết nghệ thuật. Khi mới ra đời “Chí Phèo” có tên là “Cái lò gạch cũ”. Đó là nơi Chí Phèo cha ra đời và cũng có thể là nơi hứa hẹn sự ra đời của Chí Phèo con. Chi tiết cái lò gạch cũ được nhắc đi nhắc lại hai lần trong tác phẩm, đặt ở vị trí đầu và cuối của thiên truyện như một thủ pháp trùng lặp, góp phần khái quát một hiện tượng phổ biến đến mức đã thành quy luật khủng khiếp trong cuộc đời những người nông dân ở xã hội cũ: họ bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào con đường lưu manh, sa vào kiếp sống tối tăm của thú vật, bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Việc lặp lại hai lần chi tiết cái lò gạch cũ và lấy chi tiết đó đặt tên cho tác phẩm, Nam Cao đã nói lên một điều rằng: chừng nào còn có xã hội bất công, tàn bạo, có cơ chế đẻ ra tội ác, chừng ấy còn có hiện tượng Chí Phèo. Qua cách kết cấu này, chúng ta thấy, Nam Cao đã nhận thức được cái tận cùng của xung đột giai cấp ở nông thôn.
Nếu chi tiết “cái lò gạch cũ” tạo nên kết cấu vòng tròn đầy buồn thảm cho “Chí Phèo” của Nam Cao, thì chi tiết lá cờ đỏ đã tạo nên kết thúc đầy lạc quan cho truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân. Chi tiết lá cờ đỏ sao vàng ở cuối truyện thật đột ngột, ngẫu nhiên mà cũng tất nhiên. Nó gắn với ý nghĩa sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, của sự sống với cái chết. Nó là biểu tượng của cách mạng, của con đường tương lai tươi sáng mà nhà văn bằng tấm lòng nhân đạo cao cả đã soi đường chỉ lối cho nhân vật của mình. Những con người như bà cụ Tứ, đặc biệt là đôi vợ chồng trẻ với tình yêu thương đùm bọc, với sức sống mãnh liệt và niềm tin vào ngày mai tốt đẹp sẽ rất dễ dàng bắt gặp ánh sáng cách mạng của Đảng. Với ý nghĩa đó, “Vợ nhặt” có thể coi là bài ca ca ngợi sự sống, đã thể hiện niềm tin bất diệt của Kim Lân vào con người, đặc biệt là người lao động. Câu chuyện mở ra bằng bóng hoàng hôn chạng vạng, kết lại trong ánh sáng rực rỡ của ban mai và lá cờ đỏ sao vàng. Kết cấu tự nhiên ấy làm cho Vợ nhặt mở ra nhiều liên tưởng cho người đọc hướng về niềm tin và hi vọng. Lá cờ đỏ ở cuối tác phẩm là dấu hiệu của một cuộc cách mạng, một sự đổi đời. Và chính nhà văn Kim Lân từng nói: Cái đói là nỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi thời đại. Cho nên, đó là một đề tài thuộc về bản chất đời sống. Các nhà văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người trước nó. Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai.
Trong quá trình nhà văn thai nghén tác phẩm, hình thành nên ý tưởng về kết cấu có ý nghĩa quyết định. Nguyễn Trung Thành khi sáng tác “Rừng xà nu”, ông đã dự kiến sẽ mở đầu và kết thúc tác phẩm bằng những chi tiết miêu tả “rừng xà nu”. Chính ông đã tâm sự: “Cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu – mà tôi sẽ ra sức tả một cách hết sức tạo hình…và truyện sẽ kết thúc bằng một cánh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận.” Kết cấu vòng tròn này đã giúp nhà văn ký thác tư tưởng nghệ thuật của mình. Tác phẩm mở ra bằng hình tượng rừng xà nu, và cuối tác phẩm ta cũng bắt gặp hình ảnh những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời. Đây là kết cấu vừa đóng vừa mở. Dường như câu chuyện này chỉ là một chương trong lịch sử ngàn đời của người Xô Man, một hành khúc trong bản anh hùng ca vô tận của Tây Nguyên. Kì tích của anh hùng Tnú chỉ là sự tiếp tục những gì mà Đam Săn, Xinh Nhã đã làm từ thời xưa. Sau Tnú, thằng bé Heng sẽ viết tiếp bản anh hùng ca mà cha ông đã viết. Với cách kết cấu này, câu chuyện còn mở ra một không gian rộng hơn làng Xô Man. Sức mạnh kiên cường, bất khuất của dân làng Xô Man, hay cũng chính là sức mạnh của cả Tây Nguyên, của cả miền Nam, và hơn nữa là của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc mãi mãi chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng đó. Những chi tiết miêu tả rừng xà nu rất độc đáo, giúp nhà văn thể hiện được ý đồ nghệ thuật của mình: khẳng định sức sống bất diệt của Tây Nguyên thời đánh Mĩ.
Như vậy, chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên kết cấu của tác phẩm.
2.2.7. Chi tiết nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả
          Mácxim Gorki đã nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Điều đó thật đúng với tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân. Trong mỗi chi tiết mà ông sáng tạo nên đều dồn tụ biết bao ý nghĩa. Để làm nổi bật sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, của cái cao thượng đối với cái thấp hèn, của cái đẹp với cái xấu xa, nhà văn đã xây dựng một loạt những chi tiết về một Huấn Cao luôn hiên ngang, bất khuất, ngẩng cao đầu trước quyền lực của nhà tù: hành động rỗ gông, thản nhiên nhận rượu thịt, câu nói khinh miệt đến điều với quản ngục, bình thản trước tin báo mình sắp sửa bị hành hình… Đặc biệt, khi miêu tả tư thế Huấn Cao cho chữ viên quản ngục, Nguyễn Tuân rất tài tình khi ông dùng từ “vướng xiếng” thay từ “bị xiềng”. Cách viết ấy đã gợi lên hình ảnh người tù hiên ngang, khẳng khái, bị trói buộc, giam cầm về thân thể nhưng luôn tự do về tinh thần. Gông xiềng chỉ là một cái gì vướng víu dưới chân. Còn tâm hồn người tù đang say sưa với mùi thơm của mực, ngây ngất trước màu trắng tinh khiết của tấm lụa bạch. Huấn Cao hiện lên như một nghệ sĩ đang say mê sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo những con chữ nói lên hoài bão tung hoành của cả một đời người. Giây phút cuối cùng của cuộc đời tử tù không than thân trách phận. Trong khoảnh khắc thiêng liêng nhất, Huấn Cao vẫn dành trọn cho cái đẹp. Việc Huấn Cao cho chữ quản ngục, không phải là hành động của người sắp bị tử hình đem những thứ quý giá nhất của đời mình trao cho người khác, càng không phải là cơ hội cuối cùng để Huấn Cao trổ hết tài hoa. Mà lí do sâu xa như Huấn Cao đã nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người… Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, việc Huấn Cao cho chữ Quản ngục thực chất là lấy lòng để tạ lòng, là tình cảm của kẻ tri âm dành cho người tri kỉ. Trong khoảnh khắc này, cái tài và cái tâm của Huấn Cao cùng thăng hoa để cho cái đẹp vút bay.
Bên cạnh những chi tiết miêu tả phong thái của Huấn Cao khi cho chữ, chủ đề của tác phẩm còn thấm đẫm trong những chi tiết tưởng như rất nhỏ bé như chi tiết hương thơm của chậu mực, chi tiết tấm lụa trắng…“Thoi mựa thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm từ chậu mực bốc lên không?…”. Câu hỏi của Huấn Cao như muốn lay thức tâm hồn trong sạch của quản ngục trỗi dậy. Hương thơm của mực hay chính là hương vị của tình người, hương vị của sự cộng cảm giữa những tâm hồn đồng điệu. Dấu (…) tạo nên khoảng lặng để tâm hồn con người được thăng hoa, ngây ngất thưởng thức cái đẹp. Chi tiết tấm lụa trắng xuất hiện bốn lần trong một đoạn văn ngắn mà bóng tối của nhà tù không thể xóa nhòa (tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ, tấm lụa trắng tinh, phiến lụa óng, bức lụa trắng). Hình ảnh tấm lụa trở đi trở lại gợi lên sự trong trẻo, thanh sạch trong tâm hồn con người mà hoàn cảnh tăm tối không thể làm hoen ố. Như vậy, ngục tù không thể tiêu diệt được cái đẹp. Đó không chỉ là cái đẹp định hình trong con chữ, mà còn là cái đẹp thoát bay từ tâm hồn, từ thiên lương trong sáng. Huấn Cao – người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp tuy sắp lìa đời, nhưng cái chết của ông có ý nghĩa tái sinh sự sống và làm hồi sinh thiên lương của quản ngục.
Dường như, Nguyễn Tuân đã dồn nén bao tư tưởng trong chi tiết lời giáo huấn của người tù: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người”. Lời giáo huấn không cứng nhắc, giáo điều mà thấm thía. Nó cất lên khoan thai, thư thái, đĩnh đạc. Đó là những lời gan ruột của bạn tri âm dành cho người tri kỉ. Câu nói ấy vừa gói ghém được nhân cách của Huấn Cao vừa thể hiện được quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp: Cái đẹp không thể sống chung với cái xấu, cái ác, cái bạo tàn. Sự trong lành của thiên lương không thể đồng hành với sự đê tiện. Huấn Cao nhấn mạnh lại: “Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.” Qua những lời gan ruột này, nhà văn muốn nêu lên một yêu cầu đối với người thưởng thức nghệ thuật: Phải sống trong sạch, sống lương thiện mới có thể đến với nghệ thuật, đến với cái đẹp. Trước khi là một nghệ sĩ phải là một con người chân chính, có nhân cách cao đẹp. Lời răn dạy của Huấn Cao có sức mạnh cảm hóa kì diệu. Bởi tiếng nói của trái tim sẽ đến với trái tim. Ngục quan cảm động, trào dâng những giọt nước mắt nóng hổi tình người, nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đây không chỉ là sự thuần phục của lí trí, mà còn là sự yêu mến của trái tim. Cái cúi đầu của quản ngục đã dạy chúng ta rằng: muốn nên người phải biết kính sợ ba điều: cái tài, cái đẹp, và thiên tính tốt đẹp của con người. Như vậy: Cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, có thiên chức hướng thiện. “Cái đẹp cứu nhân thế”.  Sự trở về không bao giờ là muộn, và sự trở về của quản ngục đã chứng tỏ chiến thắng cuối cùng của cái đẹp. Trong trật tự của xã hội phong kiến đó là cái đẹp “nổi loạn”. Qua chi tiết này, Nguyễn Tuân muốn khẳng định rằng: Trên cõi đời này không chỉ có quyền lực của nhà tù, mà còn có quyền uy của cái đẹp – Cái đẹp của nhân cách, của tài hoa, của khí phách và thiên lương con người.
Xây dựng những chi tiết nghệ thuật đặc sắc là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của những cây bút truyện ngắn tài hoa. Bởi, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng ví thật đắc địa rằng: “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy”. Soi nhận định trên vào chi tiết chiếc lá trên tường trong tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” của Ohenry quả là không sai. Qua một tiểu tiết nhỏ này, nhà văn đã thể hiện những triết lý sâu sắc về nhân sinh và nghệ thuật. Chiếc lá được vẽ nên bằng tất cả tấm lòng yêu thương, bằng tinh hoa, tinh huyết của cụ Bơmen, là phút thăng hoa sau suốt cả cuộc đời miệt mài sáng tạo của người nghệ sĩ già. Vì vậy, nó đã trở thành kiệt tác bất tử với thời gian. Và chính chiếc lá trên tường giản diệu ấy đã thắp lên niềm tin, thổi bùng lên khát vọng sống trong tâm hồn Giônxi, giúp cô gái thoát khỏi lưỡi hái của thần chết. Quả đúng là nghệ thuật chân chính luôn được thoát thai từ tình yêu thương con người và thực hiện sứ mệnh cao cả: “vị nhân sinh”. Tác phẩm nghệ thuật của cụ Bơmen được “sinh thành” trong một đêm mưa gió. Phải chăng qua chi tiết này, nhà văn muốn khẳng định một chân lý: những kiệt tác luôn ra đời trong cơn chấn động của thời đại, giữa “một cuộc bể dâu”, và người nghệ sĩ có thể phải đánh đổi bằng cả tính mạng của mình. Chiếc lá trên tường có thể coi là “huyệt đạo”, chất chứa những lớp trầm tích ý nghĩa của tác phẩm, kết tinh những chiêm nghiệm của Ôhenry về con người, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực, về giá trị và chức năng cao quý của nghệ thuật, về tấm lòng và tài năng của người nghệ sỹ…
Như vậy chính những chi tiết có dung lượng lớn về ý nghĩa đã tạo cho tác phẩm “những chiều sâu chưa nói hết”. Cái tài của người viết truyện ngắn là phải tạo được những chi tiết đắt giá để kí thác những tâm niệm của mình đối với cuộc đời và con người

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU MỘT TRUYỆN NGẮN QUA VIỆC KHAI THÁC CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT

Mỗi chi tiết nghệ thuật có thể được ví với một tế bào cấu trúc nên “sinh thể nghệ thuật”. Vì vậy, tác phẩm tự sự có sinh sắc được hay không một phần là nhờ các chi tiết. Các chi tiết nghệ thuật trong một truyện ngắn không tồn tại tách rời, mà gắn bó máu thịt với nhau, tạo nên một chỉnh thể tác phẩm sinh động. Vì vậy, khi đọc hiểu một văn bản truyện ngắn, suy cho cùng là chúng ta tìm hiểu hệ thống các chi tiết nghệ thuật cấu trúc nên: cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật,… Do khuôn khổ của sáng kiến, nên chúng tôi chỉ định hướng tìm hiểu các chi tiết xây dựng nên hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm.      

  1. Các bước tiến hành

1.1. Bước 1: Hệ thống toàn bộ những chi tiết chính của tác phẩm
Đây là yêu cầu thiết yếu khi bắt đầu đọc hiểu một tác phẩm tự sự. Khi hệ thống hóa những chi tiết chính của văn bản, đồng nghĩa với việc học sinh sẽ nắm vững cốt truyện. Giáo viên nên định hướng để các em tóm tắt các chi tiết một cách cô đọng nhất, như vậy sẽ dễ nhớ và dễ dàng vận dụng trong khi thực hành làm văn.
1.2. Bước 2: Chọn lọc và tìm hiểu những chi tiết liên quan đến nhân vật chính
          Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực và gửi gắm tư tưởng tình cảm của mình. Vì vậy, yêu cầu quan trọng đối với học sinh là phải sàng lọc được những chi tiết liên quan đến nhân vật chính như: những chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động, suy nghĩ, tính cách, tâm trạng, số phận,… Sau đó, các em phải khai thác được ý nghĩa của các chi tiết nghệ thuật này, để có thể cảm thụ được sâu sắc hình tượng nhân vật.
1.3. Bước 3: Khai thác thật tỉ mỉ vai trò của những chi tiết quan trọng
Do thời lượng đọc hiểu một tác phẩm tự sự chỉ giới hạn trong khuôn khổ 1, 2 hoặc 3 tiết học, nên giáo viên cần hướng dẫn để học sinh có thể tập trung vào những chi tiết quan trọng, tránh hiện tượng phân tích lan man tất cả các chi tiết, sẽ khiến học bài học thiếu trọng tâm và không thể sâu sắc, hấp dẫn.
Khi phân tích những chi tiết được coi là điểm sáng của văn bản, học sinh không chỉ xét ý nghĩa của nó trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, mà còn phải đặt chi tiết trong mối quan hệ với chủ đề của tác phẩm và tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Như vậy, học sinh sẽ hiểu tác phẩm một cách toàn diện, thấm thía hơn.
Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, chúng tôi sẽ vận dụng để tìm hiểu một tác phẩm tự sự đặc sắc trong chương trình THPT từ góc độ chi tiết nghệ thuật.

  1. Tìm hiểu “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài qua việc khai thác các chi tiết nghệ thuật

2.1. Chủ đề
“Vợ chồng A Phủ” là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đọa đày, giam hãm trong cuộc sống tối tăm đã vùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do.
-> Hình tượng nhân vật Mị đã soi sáng chủ đề của tác phẩm.
2.2. Nhân vật Mị
– Chúng tôi sẽ tập trung vào những chi tiết về: sự xuất hiện của Mị, cuộc đời làm dâu nhà thống lý Pá Tra, sức sống tiềm tàng của Mị.
2.2.1. Chi tiết về sự xuất hiện của Mị
– Ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm, nhà văn đã gợi lên trong lòng ta ấn tượng sâu đậm về cuộc đời nô lệ của Mị thông qua chi tiết: Mị ngồi “bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa“. Tô Hoài đã đặt nhân vật trong sự đối lập với khung cảnh xung quanh: giữa cảnh giàu có, tấp nập của nhà thống lí Pá Tra “nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” -> Mị như một con người lạc lõng, đơn độc trong cảnh giàu sang của nhà thống lý Pá Tra. Mị như gắn chặt vào tảng đá, vào tàu ngựa, tạo nên một cảnh sống riêng, cái mảng im lìm, tăm tối, cực nhọc cuả kiếp sống đọa đầy, góp phần tạo nên bức tranh trọn vẹn của nhà thống lí.
– Chi tiết khuôn mặt: lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi -> Nhà văn đã sử dụng thủ pháp miêu tả phác họa ngoại hình để gợi mở nội tâm nhân vật với một nỗi buồn nặng nề, dai dẳng. Khuôn mặt lúc nào cũng cắm xuống đất, không ngẩng lên được. Nỗi buồn u uất trên khuôn mặt cô gái ngay từ đầu đã thể hiện ý thức phản kháng, bởi vì biết đau khổ cũng là một biểu hiện của sự phản kháng.
-> Mở đầu câu chuyện bằng một vài chi tiết phác họa chân dung, nhà văn đã gây chú ý cho người đọc, đồng thời gợi ra số phận đau khổ, éo le của nhân vật.
2.2.2. Cuộc đời Mị

  1. Chi tiết về sự xuất thân của Mị

– Mị sinh ra trong một gia đình nông dân Hơ-mông nghèo. Bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Lãi mẹ đẻ lãi con. Người vợ chết vẫn chưa có tiền trả. Lúc Mị trở thành một cô gái Hơ – mông xinh đẹp vẫn chưa trả được nợ. Và Mị đã phải trả món nợ ấy bằng cuộc sống tự do, bằng cả tuổi thanh xuân và hạnh phúc, tình yêu của mình. Mị đã phải mang món nợ truyền kiếp ấy như một thứ “tội tổ tông” của người nghèo, từ lúc ra đời! Mị đã trở thành nạn nhân đau khổ của hình thức cho vay nặng lãi. Bông hoa xinh đẹp của núi rừng Tây Bắc bỗng trở thành một món hàng trừ nợ. Nỗi khổ của Mị mang tính điển hình, là nỗi khổ truyền kiếp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: nàng Kiều phải bán thân để cứu cha và em; cái Dần vì nghèo khổ mà phải nhắm mắt theo chồng khi chưa hết tuổi thơ; Huệ Chi phải lấy chồng để làm bậc thang danh vọng cho ông chú. Thông qua cuộc đời Mị, Tô Hoài đã tố cáo hình thức bóc lột phổ biến của bọn phong kiến ở miền núi cũng như miền xuôi: đó là nạn cho vay nặng lãi. Nó đã cột chặt bao nhiêu người nghèo vào số phận nô lệ, phụ thuộc.

  1. b. Mị và cuộc đời làm dâu trừ nợ nhà thống lí Pá Tra

* Những chi tiết về sự đày đọa thể xác
“Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi , thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cúng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Những câu văn dài sử dụng biện pháp liệt kê, cùng với nhịp điệu đều đều, buồn buồn đã làm cho hình tượng Mị nổi lên như một công cụ lao động, Mị phải làm hết việc này đến việc khác như một cái máy vô tri.
– Thậm chí, thân phận của Mị không bằng thân trâu ngựa, “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày“.
– Những ngày tháng của cuộc đời Mị không được đo đếm bằng niềm vui, hạnh phúc, mà được tính bằng những cực nhục triền miên, dằng dặc hết ngày này sang tháng khác. Ách áp bức dai dẳng dường như đã làm Mị tê liệt cả ý thức về bản thân và những mong muốn thay đổi số phận. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại”. Những câu văn với nhịp điệu chậm buồn đã gợi lên cuộc sống buồn thảm. Sự bóc lột sức lao động triệt để đã biến Mị thành một cái máy, thành công cụ lao động vô hồn vô cảm. Đây chính là cái vòng dây trói thứ nhất, dây trói vô hình cột chặt Mị vào nhà thống lí Pá Tra.
– Chi tiết Mị bị A Sử trói đứng vào cây cột nhà, tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột;  A Sử đạp chân vào mặt Mị; có khi đi chơi về thấy Mị đang sưởi bên lò, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nỗi xót xa, đau đớn nhất của Mị là bị chính người chồng của mình giày vò, tra tấn đến tàn tệ.
* Những chi tiết chỉ sự ách áp bức về tinh thần
Củng cố thêm cái áp bức nặng nề ấy còn là sự áp chế bởi mê tín, thần quyền. Nếu dây trói thứ nhất là sự đày đọa về thể xác, bóc lột sức lao động, thì  dây trói thứ hai ghê gớm hơn bởi đó là sự áp bức về tinh thần.
– Chi tiết: Mị bị ràng buộc bởi ý nghĩ rằng bố con Pá Tra đã mang cô về trình ma, Mị là người nhà nó thì chỉ còn biết ở cho đến lúc chết rũ xác trong nhà nó mà thôi. Mê tín và thần quyền đã nhấn chìm cuộc đời cô gái trẻ đẹp ấy xuống bùn đen tăm tối.
– Nhà văn đã khắc đậm nét khuôn mặt Mị qua chi tiết: “cúi mặt không nghĩ ngợi nữa”, “mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như một con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào “ cũng cúi mặt buồn rười rượi”. Khuôn mặt ấy là tấm gương phản chiếu cuộc đời triền miên đau khổ, tủi nhục của Mị. Thủ pháp vật hóa không đem lại cho người đọc tiếng cười trào phúng, mà lại làm trào dâng sự xót xa, thương cảm.
– Chi tiết căn buồng Mị nằm có cái cửa sổ “một lỗ vuông bằng bàn tay”, là một biểu tượng gắn với cuộc đời nhân vật. Đây là chi tiết đầy ám ảnh về cuộc đời bị giam cầm. Cái cửa sổ “Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Căn buồng ấy giống như địa ngục trần gian, cái ngục thất tinh thần giam hãm tuổi xuân của Mị, hủy diệt khát vọng sống.
– Cuộc sống khổ đau đã làm Mị tê dại về tinh thần. Nỗi đày đọa, cực nhục đã biến Mị từ một cô gái dám can đảm trốn khỏi nhà thống lý với nắm lá ngón trên tay đến chỗ không có ý nghĩ về cái chết nữa: “lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa”. Tức là Mị đã hoàn toàn mất ý thức phản kháng.
2.2.3. Sự trỗi dậy mãnh liệt của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc ở Mị
Nếu như nhà văn Kim Lân đã phát hiện ra rằng: “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống“, thì Tô Hoài cũng đi sâu vào nội tâm của Mị để phát hiện ra khát vọng sống mãnh liệt tiềm tàng trong Mị.

Bản quyền bài viết này thuộc về https://thptxuyenmoc.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
  1. Lòng ham sống là một phẩm chất vốn có của Mị, thể hiện ở một loạt chi tiết:

– Ngày xuân uống rượu, thổi sáo.
– Hồi hộp chờ đợi người yêu đến, lặng lẽ quơ tay để tìm ngón tay đeo nhẫn của người yêu.
– Khi bị gả cho nhà thống lý Mị nói với bố một câu: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Chi tiết này thể hiện Mị là một cô gái mạnh mẽ, có tinh thần phản kháng, không dễ dàng chấp nhận số phận. Khi về làm dâu “có đến hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc”, rồi cô trốn về nhà lạy bố và muốn ăn lá ngón tự tử. Hành động của Mị chứng tỏ cô không muốn chấp nhận cuộc sống hiện tại đau khổ. Khi Mị muốn chết nghĩa là cô còn tha thiết, còn khao khát một cuộc sống hạnh phúc đích thực của con người.
Khát vọng hạnh phúc, tình yêu ở Mị đã bùng cháy lên mạnh mẽ ở hai thời điểm: đêm tình mùa xuân và khi Mị cắt dây trói cứu A Phủ.

  1. Những chi tiết thể hiện sức sống mãnh liệt của Mị trong đêm tình mùa xuân

* Chi tiết về sự tác động của ngoại cảnh làm hồi sinh tâm hồn Mị
– Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng.
– Trong các bản Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ.
+ Trai gái, trẻ con tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.
– Chi tiết: ở nhà thống lí, bữa rượt tết đã tàn nhưng cái nồng nàn của mùa xuân đã được khơi dậy bởi hơi men, bởi tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng người hát lên đồng. Chi tiết hơi rượu xuất hiện 3 lần, cùng với những âm thanh rộn ràng, tưng bừng ấy đã kích thích Mị.
-> Sự thức tỉnh đời sống ý thức, tâm hồn của Mị trước hết là nhờ tác động của hoàn cảnh, đó là khi mùa xuân về trên miền núi cao Tây Bắc. Mùa xuân – mùa của sự sống, tuổi trẻ, tình yêu, gợi dậy ở con người, ở thiên nhiên sức sống tiềm tàng và những khát vọng. Người Mông ăn tết khi lúa đã gặt xong, mùa xuân có niềm vui xuân và có thêm niềm vui thu hoạch mùa màng. Sự sống của tạo vật và con người như được mùa xuân khơi dậy, làm bừng tỉnh.
* Ngọn lửa sống của Mị trongđêm tình mùa xuân.
Chi tiết Mị uống rượu: “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát”, để quên đi hiện tại và sống với quá khứ tươi đẹp, với tuổi thanh xuân say đắm yêu đương. Cách uống rượu của Mị như muốn uống trôi cái cay đắng của phần đời đã qua ; uống cái khao khát của phần đời đang tới.
– Đặc biệt là chi tiết tiếng sáo: Mị bị lôi cuốn bởi tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha, bồi hồi “tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Tiếng sáo xuất hiện 6 lần đánh thức tâm hồn Mị:
+ Với Mị tiếng sáo gọi bạn là biểu tượng lôi cuốn nhất của mùa xuân, của khát vọng hạnh phúc. Sức xuân và tình xuân đã đưa Mị vượt thoát khỏi tâm trạng thờ ơ, nguội lạnh.
+ Mị sống với kỉ niệm, bao kí ức đẹp đẽ, nồng nàn ngắn ngủi của tuổi trẻ chợt sống dậy mãnh liệt: “Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”.
+ Tiếng sáo giúp Mị nhận thức về giá trị của mình, một cô gái xinh đẹp, tài hoa, có biết bao chàng trai theo đuổi.
+ Tiếng sáo đã thổi bùng lên khát vọng sống: Mị đã vượt qua tình trạng sống “phi thời gian”, sống mà như đã chết bấy lâu nay, rồi Mị sống lại với niềm ham sống của tuổi trẻ. Sự diệu kì của âm nhạc đã làm cho tâm hồn con người được hồi sinh: “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên thấy vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi”. Sức sống bấy lâu nay bị đè nén, tưởng như tắt lịm, thì nay bỗng bật trào dậy mãnh liệt. Khát vọng hạnh phúc tình yêu như đốm tro tàn tưởng như đã nguội lạnh trong tâm hồn Mị, bỗng lại được cơn gió mùa xuân thổi bùng lên.
+ Khát vọng tình yêu, hạnh phúc đã gắn với ý thức phản kháng mãnh liệt: Chi tiết: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Đối với người phụ nữ, còn nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau khi phải sống với người mà mình không yêu thương? Mị và A Sử không có lòng với nhau mà phải ở với nhau. Hơn lúc nào hết, M thấm thía và cay đắng với bi kịch của cuộc đời mình. Mị không muốn làm con ngựa con trâu cho nhà thống lý nữa. Ý nghĩ về cái chết lúc này là sự phản kháng với hoàn cảnh, nó chứng tỏ rằng Mị đã ý thức được tình cảnh đau xót dai dẳng của mình.
+ Trong khi ấy thì tiếng sáo “gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường“. Đó là biểu tượng của khát vọng tình yêu và tự do đeo bám, lay thức tâm hồn Mị. Tiếng sáo như có hình, có khối, như tình ai không thể tan, như lòng ai đang chờ đợi. Tiếng sáo của hiện tại, tiếng sáo của tâm tưởng, hay chính là tiếng lòng thiết tha của Mị với hạnh phúc, tình yêu. Nó là ngọn gió thổi bùng lên đốm lửa khát vọng trong lòng cô. Từ chỗ lơ lửng giữa không gian mùa xuân, tiếng sáo đã thâm nhập thế giới nội tâm của Mị, hiện hữu ở trong tâm linh nhân vật: “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo”, đánh thức dậy khao khát sống, khao khát yêu đương.
– Từ đây, ở Mị đã xảy ra bước phát triển quyết định: từ những sôi sục trong tâm tư, Mị bước tới hành động:
+ Chi tiết nhiều ý nghĩa: “Mị đến góc nhà, lấy một ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Đó là một hành động của sự thức tỉnh. Đã lâu lắm rồi, giờ đây Mị mới có ý thức về không gian, thời gian. Mị thắp sáng một ngọn đèn trong căn phòng vốn âm u, mờ mịt của mình, cũng tức là Mị đã thắp lên một ánh sáng trong cuộc đời tăm tối triền miên của mình trong nhà Pá Tra, thắp sáng ngọn lửa khao khát yêu đương đã tắt trong tâm hồn Mị từ lâu.
+ Mị sửa soạn đi chơi tết: quấn lại tóc, rút lấy cái váy hoa, sửa soạn đi chơi tết Mị tự mình hành động như một con người tự do, theo tiếng gọi của lòng mình. Cả tuổi trẻ, khát vọng được sống, được yêu đã hồi sinh trong Mị. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mạnh mẽ thì nó bị dập xuống phũ phàng: A Sử trói Mị vào cột nhà.
+ Chi tiết: “Tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Dây trói của A Sử chỉ có thể trói được thể xác, mà không thể trói được tâm hồn đang rạo rực yêu đương của Mị. Đây là cuộc vượt ngục bằng tinh thần, bằng đôi cánh của tình yêu cuộc sống. Sức sống trong lòng Mị âm thầm nhưng thật bền bỉ. Tâm hồn và trái tim của Mị đang thoát bay để được nhúng mình vào không khí nồng nàn của những đêm tình mùa xuân. “Em không yêu quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…”. Tiếng sáo đưa Mị trở lại với những tháng ngày thanh xuân mà khát vọng tình yêu bồi hồi trong ngực, khiến Mị lúc “nồng nàn tha thiết nhớ”, rồi lại khóc vì cay đắng xót xa.
+  Khát vọng tự do, hạnh phúc tình yêu đã lên đến đỉnh điểm, đến nỗi Mị “vùng bước đi”. Nhưng rồi những vòng dây trói thít chặt và nỗi đau đớn đến tê dại toàn thân đã kéo Mị trở về với thực tại.
=> Ngòi bút của Tô Hoài đã thấm nhuần tinh thần nhân đạo, thể hiện ở niềm tin và sự trân trọng niềm khát khao vươn lên đời sống tự do hạnh phúc của những con người bị đọa đầy đau khổ. Đó là sự tiếp nối tinh thần nhân đạo truyền thống trong văn học dân tộc.
* Hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ
Sưởi lửa là chi tiết có ý nghĩa biểu tượng. Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Mị vẫn cảm thấy cái lạnh về thể xác, nhưng đêm nay dường như Mị còn cảm thấy cái lạnh giá, cô đơn, trống trải của tâm hồn. Phải chăng Mị hơ lửa để sưởi ấm cho trái tim mình?
– Mịcắt dây cởi trói cho A Phủ. Đây là chi tiết thể hiện sự trỗi dậy mạnh mẽ nhất của khát vọng sống, là hành động có ý nghĩa biểu tượng. Mị đã cắt cái vòng dây trói vật chất là sợi mây cuốn quanh A Phủ, đồng thời cũng cắt đứt luôn vòng dây trói của thần quyền, của những tập tục lạc hậu, của sự sợ hãi vẫn trói Mị vào nhà Pá Tra. Khi ấy Mị cũng đã cắt sợi dây trói buộc đời mình với nhà thống lý. Đây là hành động quyết liệt, táo bạo và vẫn mang đậm chất nữ tính.
* Chi tiết Mị chạy theo A Phủ
– Chỉ đến khi A Phủ chạy, nỗi sợ hãi và cả hy vọng, khao khát sống mới bùng lên mãnh mẽ, thôi thúc Mị chạy theo A Phủ thoát khỏi địa ngục nhà Pá Tra. Hành động này diễn ra rất tự nhiên. Mị không còn sợ con ma nhà thống lí, khát vọng sống đã chiến thắng và bùng lên thành ngọn lửa.
– Chi tiết đối đáp giữa Mị và A Phủ: “A Phủ cho tôi đi” …“Đi với tôi”, vậy là một sợi dây vô hình vừa bị chặt đứt nay lại xuất hiện, không phải để níu giữ họ với cuộc đời nô lệ mà là để buộc chặt họ với nhau, bén lên một thứ duyên lành. Sức sống bền bỉ của Mị cộng hưởng với sức sống mạnh mẽ của A Phủ, tạo thành sức phản kháng phi thường, hai người vùng thoát chạy khỏi nhà thống lí Pá Tra, kết thúc cuộc đời nô lệ cùng cực, mở ra trang đời mới tự do cho Mị.
-> Khát vọng sống trong lòng Mị giống như mầm non luôn vận động, hướng về ánh sáng mặc cho gió dập sóng vùi, dù bão táp mưa sa. Có thể nói lần đầu tiên trong văn học, chân dung và tâm hồn những con người vùng cao được trân trọng và yêu mến đến nhường vậy. Lách ngòi bút vào tận sâu tiềm thức mơ hồ, gạt phủi đi lớp tro bụi tối tăm và tinh tế hơn cả là chăng lên một thứ tơ cảm xúc, Tô Hoài như đang đặt tất cả niềm tin yêu, hy vọng chân thành với những con người “mặc bộ đồ tôi tớ, nhưng tâm hồn không tôi tớ” (Vích to Huygô)
Kết luận: Tô Hoài đã rất tài tình khi đưa vào tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” những chi tiết nghệ thuật thấm đẫm chất thơ, mang đậm đặc trưng văn hóa của đồng bào Tây Bắc, nhờ đó tác giả đã kiến tạo nên “một không gian vời vợi cho đất nước và con người bay bổng lên hơn nữa, rồi bỏ được cái ám ảnh, tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật và nhỏ bé vấn đề đi“. Vi vậy, tuy cùng viết về số phận đau khổ của con người, nhưng ngòi bút đậm chất thơ của Tô Hoài đã làm sống dậy vẻ đẹp của loài hoa ban nơi núi rừng Tây Bắc qua hình tượng Mị, còn người “vợ nhặt” lại hiện lên chân chất, mộc mạc như một loài hoa dại dưới ngòi bút của Kim Lân. Tuy khác nhau, nhưng hai loài hoa ấy đều điểm tô cho vườn hoa văn học nước nhà hai mùi hương, hai sắc màu riêng biệt. Và ẩn sau làn hương thầm kín ấy, là sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật của các nhà văn.

 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ DẠNG ĐỀ VỀ CHI TIẾT TRONG TRUYỆN NGẮN

Cơ sở cuối cùng và quan trọng nhất để đánh giá kết quả của quá trình dạy và học là bài làm văn của học sinh. Vì vậy ở chương này chúng tôi tổng hợp một số dạng đề về chi tiết trong tác phẩm tự sự và cách thức thực hiện những dạng đề này.

  1. Phân tích (cảm nhận) ý nghĩa của một chi tiết

Thông thường, với kiểu bài này người ra đề sẽ chọn những chi tiết đặc sắc, có ý nghĩa quan trọng làm sáng tỏ chân dung nhân vật và tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Yêu cầu học sinh phải nắm vững tác phẩm, tái hiện lại được chính xác chi tiết và thể hiện được khả năng phân tích, cảm nhận tinh tế, sắc sảo của mình.
1.1. Một số đề bài
1.1.1. Phân tích ý nghĩa của chi tiết ngọn đèn trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
1.1.2. Phân tích chi tiết bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
1.1.3. Chi tiết hai chị em Liên chờ tàu trong Hai đứa trẻ
1.1.4. Chi tiết lời giáo huấn của Huấn Cao dành cho quản ngục: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người … Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.”
1.1.5. Chi tiết lời cảm tạ của quản ngục sau khi được Huấn Cao cho chữ: “Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
1.1.6. Về chi tiết tiếng sáo trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”
1.1.7. Cảm nhận của em về chi tiết Mị cắt dây trói cứu A Phủ trong Vợ chồng A Phủ
1.1.8. Về chi tiết lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cuối truyện ngắn “Vợ nhặt”
1.1.9 Chi tiết nước mắt và nụ cười của người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”
1.1.10. Chi tiết tấm ảnh chân dung của người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”
1.1.11. Phân tích chi tiết đôi bàn tay của Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu”
1.1.12. chi tiết hai chị em Chiến và Việt khiêng bàn thờ má sang gửi chú Năm trong “Những đứa con trong gia đình”….
1.1.13. Chi tiết chiếc bánh bao tẩm máu người trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn
1.1.14. Chi tiết chiếc vòng hoa trên mộ Hạ Du trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn.
1.2. Cách thức thực hiện
1.2.1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và chi tiết cần phân tích.
1.2.2. Thân bài
– Bước 1: Khái niệm: chi tiết nghệ thuật.
– Bước 2: Tái hiện lại chi tiết đó xuất hiện như thế nào trong tác phẩm (Yêu cầu phải dẫn được chính xác nguyên văn của tác giả).
– Bước 3: Phân tích ý nghĩa của chi tiết trong mối quan hệ với:
+ Các phương diện nghệ thuật khác của tác phẩm (cốt truyện, tình huống, nhân vật, kết cấu…).
+ Tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
1.2.3. Kết bài
– Đánh giá về tài và tâm của tác giả.
1.3. Ví dụ
1.3.1. Đề bài 1:Anh (chị) hãy bình giá ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật chi tiết lời cảm tạ của quản ngục sau khi được Huấn Cao cho chữ: “Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
Mở bài
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và chi tiết cần phân tích
Thân bài
– Khái niệm: chi tiết nghệ thuật
– Xuất xứ của câu nói: là chi tiết kết thúc tác phẩm.
– Ý nghĩa:
+ Thể hiện cách ứng xử đầy tôn kính của quản ngục, con người tuy làm nghề thất đức nhưng lại có tấm lòng biệt nhỡn liên tài trước Huấn Cao – bậc anh hùng, đấng tài hoa, khi lĩnh nhận lời di huấn thiêng liêng, cao quý.
+ Nếu Huấn Cao không cúi đầu trước cường quyền phi nghĩa, và cúi đầu trước sở thích cao quý của một tấm lòng trong thiên hạ, thì quản ngục cũng biết cúi đầu trước cái tài, cái tâm và thiên lương, khí phách. Có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con người đê tiện. Nhưng cũng có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên cao cả hơn, sang trọng hơn. Cái cúi đầu của viên quản ngục vái lạy Huấn Cao gợi chúng ta liên tưởng tới cái cúi đầu của Cao Bá Quát trước hoa mai: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu vái lạy trước hoa mai).
+ Dòng nước mắt và sự nghẹn ngào của quản ngục thể hiện nỗi đau đớn, bi phẫn tột cùng trước cảnh ngộ oái oăm, ngang trái, đầy bi kịch của Huấn Cao.
+ Cái cúi đầu của quản ngục trước Huấn Cao đã làm sáng tỏ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: quyền lực phi nghĩa vô nghĩa trước quyền uy của cái đẹp tình người, cái đẹp nghệ thuật.
Kết bài
– Khẳng định lại ý nghĩa của chi tiết.
– Đánh giá về tấm lòng và tài năng của nhà văn.
1.3.2. Đề bài 2: Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết đôi bàn tay của Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.
Mở bài
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và chi tiết cần phân tích
Thân bài
– Khái niệm: chi tiết nghệ thuật
– Hoàn cảnh xuất hiện của chi tiết: chi tiết này xuất hiện rất nhiều lần trong tác phẩm, gắn liền với những chặng đường phát triển của nhân vật Tnú từ lúc ấu thơ đến khi trưởng thành.
– Ý nghĩa: Chi tiết đặc sắc nhất, gây ấn tượng sâu đậm, vừa có ý nghĩa thực, vừa có ý nghĩa biểu tượng:
+ Qua đôi bàn tay, ta thấy hiện lên cuộc đời, thân phận, tính cách của Tnú :
▪ Bàn tay Tnú lúc còn nhỏ là bàn tay tình nghĩa, trung thực. Đó là bàn tay mang thức ăn tiếp tế cho bộ đội.
▪ Bàn tay cần cù đi lấy đá núi Ngọc Linh về cho anh Quyết dạy chữ.
▪ Bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy, và cũng là bàn tay dũng cảm dám cầm đá tự đập vào đầu mình, để tự trừng phạt khi học chữ hay quên.
▪ Bàn tay đưa thư cách mạng lên miệng để nuốt khi gặp quân giặc, và cũng là bàn tay chỉ vào bụng mình mà trả lời quân giặc: Cộng sản ở đây này.
▪ Đó là bàn tay kiên cường giúp Tnú thoát khỏi ngục Kom Tum trở về.
▪ Bàn tay nồng ấm yêu thương, cầm tay người con gái mà anh yêu thương.
▪ Bàn tay thể hiện lòng căm hận sục sôi khi chứng kiến vợ con bị tra tấn. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay.
▪ Đó cũng là bàn tay còn lành lặn nhưng không cầm vũ khí, xông ra cứu vợ con nên đã bị kẻ thù bắt trói và đốt cụt ngón bằng giẻ tẩm nhựa xà nu. Hai bàn tay Tnú mười ngón trở thành mười ngọn đuốc châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy của dân làng Xô Man.
▪ Bàn tay đã được dập lửa nhưng mỗi ngón chỉ còn hai đốt. Bày tay bị cụt ngón của Tnú như chứng tích về tội ác man rợ của kẻ thù và lòng căm hận mà anh mang theo suốt đời.
▪ Nhưng bàn tay ấy vẫn cầm được giáo, cầm được súng. Tnú đã cầm súng lên đường tìm những thằng Dục để trả thù. Đến cuối truyện, một lần nữa bàn tay Tnú lại xuất hiện trong một tư thế, một tương quan hoàn toàn khác trước kẻ thù. Bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt đã trở thành bàn tay quả báo, bắt kẻ thù phải đền tội.
-> Như vậy, bàn tay là biểu tượng cho tính cách, số phận của Tnú. Đó là bàn tay yêu thương tình nghĩa, bàn tay lao động chiến đấu, bàn tay của ý chí bất khuất, của khát vọng tự do, và chủ nghĩa anh hùng. Đây là chi tiết nghệ thuật đắt giá, thể hiện vẻ đẹp sử thi của người anh hùng Tây Nguyên.
– Qua đôi bàn tay ta cũng thấy được con đường đi của Tnú và dân làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: con đường đấu tranh vũ trang để giải phóng dân tộc.
– Chi tiết đôi bàn tay của Tnú còn kết tinh chủ đề của tác phẩm và tư tưởng của tác giả, thể hiện chân lý của thời đại cách mạng: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo.
Kết bài
– Khẳng định lại đây là chi tiết nghệ thuật độc đáo.
– Kết tinh tấm lòng và tài năng của nhà văn.
2. Kiểu bài so sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm
Kiểu bài so sánh chi tiết trong hai tác phẩm tự sự, không chỉ đòi hỏi ở học sinh kĩ năng phân tích, cảm nhận, mà còn khơi dậy ở các em khả năng tinh nhạy trong phát hiện vấn đề, kỹ năng tư duy so sánh, đối chiếu để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai chi tiết, từ đó làm sáng tỏ được vẻ đẹp riêng của từng chi tiết, sự sáng tạo độc đáo của mỗi nhà văn. Hơn nữa, học sinh còn phải thể hiện được khả năng cắt nghĩa, lý giải tại sao lại có sự tương đồng và khác biệt này thông qua việc vận dụng các kiến thức về bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…
2.1. Một số đề bài
2.1.1. Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao) (Đề khối D 2010)
2.1.2. So sánh chi tiết ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”
2.1.3. Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết tiếng sáo trong “Vợ chồng A Phủ” và hình ảnh đoàn tàu trong “Hai đứa trẻ”.
2.1.4. So sánh chi tiết giọt nước mắt của Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) với Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
2.1.5. Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết A Sử đánh và trói Mị trong “Vợ chồng A Phủ” và cảnh người chồng bạo hành vợ trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
2.2. Cách thức thực hiện
2.2.1. Cách làm thứ nhất
Hướng dẫn học sinh tiến hành so sánh theo lối cuốn chiếu, lần lượt trình bày xong chi tiết thứ nhất, chuyển sang trình bày chi tiết thứ hai, sau đó rút ra sự giống và khác nhau, lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó. Cách làm này dễ thực hiện nhưng khó hay, dễ bị trùng lặp ý.
Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và hai chi tiết cần so sánh.
Thân bài
– Bước 1: Phân tích chi tiết thứ nhất (sự xuất hiện, ý nghĩa)
– Bước 2: Phân tích chi tiết thứ hai (sự xuất hiện, ý nghĩa)
– Bước 3: So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai chi tiết trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
– Bước 4: Lý giải sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết về bối cảnh văn hóa xã hội, phong cách nhà văn; đặc trưng của quá trình sáng tạo, đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…
Kết bài
– Đánh giá khái quát về đặc sắc riêng của hai chi tiết và sự sáng tạo của nhà văn.
2.2.2.Cách làm thứ hai
          Học sinh tiến hành so sánh hai chi tiết trên hai phương diện cơ bản: giống và khác nhau. Trên mỗi phương diện này, người viết tìm ra các tiêu chí để so sánh. Cách làm này khó hơn nhưng hay hơn, đòi hỏi học sinh không chỉ nắm chắc được chi tiết, cảm thụ được sâu sắc ý nghĩa của chúng, mà còn phải có sự tinh tế, sắc sảo để xác định được các tiêu chí so sánh phù hợp với từng đối tượng so sánh.
Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và hai chi tiết cần so sánh.
Thân bài
– Bước 1: Phân tích sự giống nhau của hai chi tiết
– Bước 2: Chỉ ra sự khác nhau của hai chi tiết
– Bước 3:  Lý giải sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết về bối cảnh văn hóa xã hội, phong cách nhà văn; đặc trưng của quá trình sáng tạo, đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…
Kết bài
– Đánh giá khái quát về đặc sắc riêng của hai chi tiết và sự sáng tạo của nhà văn.
2.3. Dàn ý ví dụ
Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về chi tiết A Sử đánh và trói Mị trong “Vợ chồng A Phủ” và cảnh người chồng bạo hành vợ trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
2.3.1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về nhà văn Tô Hoài với “Vợ chồng A Phủ” và tác giả Nguyễn Minh Châu với “Chiếc thuyền ngoài xa”
– Giới thiệu hai chi tiết: A Sử đánh và trói Mị trong “Vợ chồng A Phủ” và cảnh người chồng bạo hành vợ trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
2.3.2. Thân bài
Sự giống nhau
– Đây đều là hai chi tiết hay, độc đáo. Chủ thể của hành động là hai người đàn ông – những người chồng vũ phu.
– Đối tượng bị tra tấn, đánh đập là những người phụ nữ bất hạnh – là nạn nhân đau khổ của bạo lực gia đình. Trước hành động tàn ác của chồng, cả hai người đàn bà này đều cam chịu, không hề phản ứng lại.
Sự khác nhau
– Đặc điểm xã hội mà các nhân vật tồn tại: Hai tác phẩm phản ánh đời sống của con người ở hai chế độ xã hội khác nhau. Mị và A Sử (Vợ chồng A Phủ) sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến miền núi. Người đàn ông và người đàn bà (Chiếc thuyền ngoài xa) sống trong môi trường xã hội là đất nước ta đã lập lại hòa bình. Như vậy, dù ở bất kì thời kì nào, người phụ nữ vẫn là những con người nhỏ bé, phải chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ, cần được xã hội bênh vực, bảo vệ.
– Thời điểm hai người đàn bà bị bạo hành:
+ Trong “Vợ chồng A Phủ”: Trong đêm tình mùa xuân rạo rực, đắm say, hơi men và tiếng sáo gọi bạn yêu đã đánh thức dậy khát vọng hạnh phúc và tình yêu ở Mị. Mị thoát khỏi tình trạng vô cảm, ý thức được giá trị của mình, tâm hồn hồi sinh, phơi phới như những đêm tết ngày trước. Mị sửa soạn đi chơi tết. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mạnh mẽ thì nó bị dập xuống phũ phàng: “A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đây ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.”
+ Nếu như Mị bị đánh vì muốn được đi chơi ngày tết, thì người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” bị chồng hành hung ngay cả khi chị vừa thức trắng một đêm để kéo lưới đầy nhọc nhằn. Chi tiết này vừa tô đậm sự đau khổ của cuộc đời chị, vừa khắc họa rõ nét thói vũ phu của người đàn ông: “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”.
– Vị trí hai nhân vật bị bạo hành:
+ Mị: Bị chồng hành hạ ngay trong căn buồng của cô. Căn buồng của người phụ nữ Hơ mông là nơi họ được hưởng chút hạnh phúc ít ỏi của phận làm vợ, làm mẹ. Nhưng với Mị căn buồng ấy giống như địa ngục trần gian, cái ngục thất tinh thần giam hãm tuổi xuân của Mị, hủy diệt khát vọng sống.
+ Người đàn bà: Người chồng bạo hành vợ ở bãi xe tăng hỏng. Tác giả đã xây dựng chi tiết này như một gợi ý rằng cuộc chiến chống đói nghèo, tăm tối còn gian nan hơn cả cuộc chiến đấu chống ngoại xâm và chừng nào còn chưa thoát khỏi đói nghèo thì chừng đó con người phải chung sống với cái xấu, cái ác?
– Thái độ của hai người đàn ông khi bạo hành vợ:
+ A Sử: Lạnh lùng trói đứng Mị, dã man hơn hắn còn quấn luôn tóc Mị vào cột làm cho Mị không thể nhúc nhích. Cái kĩ càng, rành rẽ của từng động tác biểu hiện một sự tàn ác đến thản nhiên của A Sử.
+ Người đàn ông: Đánh vợ với lão dường như là một việc làm bất đắc dĩ, khi cuộc sống quá bế tắc, lão lại lôi vợ ra đánh. Hắn đánh vợ trong “rên rỉ đau đớn”, đánh vợ mà như đánh chính bản thân mình. Mỗi lần vung roi lên đánh vợ dường như là thêm một lần hắn phải đối diện với bi kịch đang cào xé tâm hồn hắn. Thái độ cam chịu, nhẫn nhục của bà chính là biểu hiện của bao yêu thương, chia sẻ với những vất vả và bế tắc của chồng. Gánh nặng trên vai một đàn con, đối mặt với cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn trên sông nước người đàn ông ấy cùng quẫn, bất lực và cũng chỉ biết “nghiến răng” chịu đựng. Ông ta cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của cuộc sống đói nghèo, tăm tối.
– Nguyên nhân của nạn bạo hành:
+ A Sử là hiện thân của chế độ phong kiến miền núi đầy bất công và dã man đọa đày người dân nghèo cả về thể xác lẫn tinh thần.
+ Nguyên nhân của nạn bạo hành trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là do đói nghèo, tăm tối, lạc hậu.
– Giải pháp giúp những người phụ nữ thoát khỏi nạn bạo hành:
+ “Vợ chồng A Phủ”: Tô Hoài đã chỉ ra con đường giải thoát cho nhân vật của mình, Mị và A Phủ đã đi theo cách mạng, tìm đến một cuộc đời mới, hạnh phúc, tươi sáng.
+ “Chiếc thuyền ngoài xa”: Cần có những giải pháp kinh tế xã hội thiết thực, hữu hiệu để con người được sống trong no ấm, bình yên.
– Ý nghĩa của chi tiết: Đây là hai chi tiết ấn tượng, có ý nghĩa quan trọng: Góp phần khắc họa rõ nét chân dung nhân vật, thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng của tác giả.
+ Sự dã man, tàn bạo của A Sử, nỗi khổ đau bất hạnh của Mị và tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài.
+ Những tủi nhục và vẻ đẹp của lòng vị tha, giàu đức hy sinh của người đàn bà, sự thô lỗ, vũ phu và bi kịch của người đàn ông. Qua chi tiết này, Nguyễn Minh Châu còn gửi gắm bao triết lý sâu sắc về cuộc đời, về con người.
2.3.3. Kết bài
– Khẳng định lại vai trò của chi tiết, suy nghĩ về sự sáng tạo trong văn chương.

  1. Dạng đề lý luận

Để làm tốt kiểu bài này, yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức về tác phẩm, có kĩ năng phân tích, bình giá tốt. Ngoài ra, các em phải được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận về đặc trưng của thể loại truyện ngắn, đặc biệt là chi tiết nghệ thuật. Kiểu đề này sẽ rèn luyện cho các em khả năng phân tích định hướng, phân tích chi tiết nghệ thuật để làm sáng tỏ một vấn đề lý luận. Mặt khác, dạng bài này còn kiểm tra sự tinh nhạy của học sinh trong khâu chọn dẫn chứng. Các em phải chọn được những dẫn chứng đặc sắc, đích đáng để soi tỏ được nhận định của đề bài.
3.1. Một số đề bài
3.1.1. Macxim Gorki: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.
3.1.2. Bàn về truyện ngắn, có người cho rằng: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr 315)
Anh (chị) hiểu thế nào về ý kiến trên và hãy chứng minh qua một số truyện ngắn tiêu biểu.
3.1.3. “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy”. (Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, báo Văn nghệ số 14, tháng 4/1999).
Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên? Bằng hiểu biết về một số truyện ngắn xuất sắc đã học và đọc thêm, hãy làm sáng tỏ.
3.2.Cách thức thực hiện
3.2.1. Mở bài
– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận, dẫn dắt vào nhận định (trích nguyên văn).
3.2.2. Thân bài
– Bước 1: Giải thích nhận định: Vận dụng kiến thức lý luận về đặc trưng truyện ngắn, chi tiết nghệ thuật…. để giải thích; nêu lên vấn đề cần nghị luận.
– Bước 2: Chứng minh: Chọn những dẫn chứng tiêu biểu, đặc sắc trong các tác phẩm xuất sắc của các tác giả lớn để làm sáng tỏ vấn đề.
– Bước 3: Bình luận:
+ Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận.
+ Đưa ra phản đề (nếu có).
+ Mở rộng, nâng cao vấn đề.
3.3. Dàn ý ví dụ
3.3.1.Đề bài 1: Bàn về truyện ngắn, có người cho rằng: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr 315)
Mở bài
– Nét đặc biệt của truyện ngắn so với các thể loại tự sự khác là tuy hạn chế về chiều dài tác phẩm nhưng độ sâu của nó lại thăm thẳm, không cùng.
– Dẫn ý kiến
Thân bài
* Giải thích:
– Ý kiến này nêu lên vấn đề gì?
+ Khái niệm truyện ngắn.
+ Khái niệm chi tiết nghệ thuật.
+ Chi tiết cô đúc: là những chi tiết chứa đựng một dung lượng lớn về ý nghĩa, đặc biệt là giàu ý nghĩa biểu tượng.
+ Lối hành văn mang nhiều ẩn ý: là cách hành văn giản dị, trong sáng mà rất uyên thâm, sâu sắc, “ý tại ngôn ngoại”.
+ Những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý sẽ tạo cho tác phẩm nhiều tầng bậc ý nghĩa, giống như “tảng băng trôi” ba phần nổi dành cho câu chữ và bảy phần chìm trong ý tưởng của người sáng tạo. (Hêmingway)
=> Tóm lại nhận định đã chỉ ra chính xác yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết nghệ thuật và cách hành văn của tác giả.
– Tại sao lại khẳng định “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết”?
-> Xuất phát từ đặc trưng của truyện ngắn: Do hạn chế về số lượng câu chữ nên dung lượng cuộc sống được phản ánh trong truyện ngắn không thể so sánh được với các thể loại khác như truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết. Truyện ngắn chỉ thông qua một hiện tượng, một lát cắt, một khoảnh khắc của đời sống, mà khái quát lên được bản chất của cuộc đời và con người. Bởi vậy, người viết truyện ngắn phải có kỹ thuật tinh xảo, biết dồn nén tư tưởng vào trong những chi tiết đặc sắc, và cách hành văn đầy ẩn ý.
* Chứng minh
– Làm sáng tỏ ý kiến thông qua những truyện ngắn xuất sắc của những bậc thầy truyện ngắn: Lỗ Tấn, T.Sêkhốp, Nam Cao, Nguyễn Tuân,…
* Bình luận
– Khẳng định đây là ý kiến đúng đắn, có giá trị, đã khái quát lên được đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
– Ý kiến đúng nhưng chưa đủ. Ngoài chi tiết nghệ thuật và cách hành văn, sự thành công của một truyện ngắn còn được quyết định bởi rất nhiều yếu tố khác như: cốt truyện, tình huống truyện, hệ thống nhân vật, kết cấu, giọng điệu,…
– Bàn về bài học rút ra đối với nhà văn và người tiếp nhận.
Kết bài
– Khẳng định lại vấn đề
3.3.2.Đề bài 2: “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy”. (Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, báo Văn nghệ số 14, tháng 4/1999).
          Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên? Bằng hiểu biết về một số truyện ngắn xuất sắc đã học và đọc thêm, hãy làm sáng tỏ.
Mở bài
– Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
– Trích dẫn ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh.
Thân bài
* Giải thích
– Giải thích từ ngữ và rút ra vấn đề cần nghị luận:
+ Khái niệm truyện ngắn: là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, phản ánh cuộc sống trong tính khách quan của nó thông qua con người, hành vi và các sự kiện. Truyện ngắn đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội.
+ Khái niệm chi tiết nghệ thuật: “Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng”. Cũng theo nhóm tác giả này thì: “Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định.” (2)
+ Nhãn tự: chữ có mắt, có nghĩa là điểm sáng của bài thơ, hàm chứa chủ đề của thi phẩm và tư tưởng của tác giả.
-> Ý kiến đã khẳng định vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn.
– Tại sao nói chi tiết trong truyện ngắn có vai trò quan trọng như “nhãn tự” trong bài thơ tứ tuyệt?
+ Thể loại thơ, nhất là thơ tứ tuyệt luôn cô đọng, ngắn gọn nhưng lại hàm chứa những tầng bậc ý nghĩa sâu xa, “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn tận nhi ý bất tận”. Để đạt được điều đó, nhà thơ đã dồn nén cảm xúc và tư tưởng trong những “nhãn tự”, “thần cú”.
+ Do đặc trưng của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng câu chữ, do đó nhà văn phải dồn nén tư tưởng vào trong những chi tiết nghệ thuật mang nhiều ẩn ý như “bàn tay xiết lại thành nắm đấm”. (Hêmingway)
* Chứng minh
– Đây là phần thỏa sức cho học sính sáng tạo, thể hiện khả năng cảm thụ văn học và sự tinh nhạy trong lựa chọn chi tiết, vốn văn học sâu rộng. Yêu cầu học sinh phải chọn được những dẫn chứng đặc sắc, phân tích định hướng làm sáng tỏ vai trò của chi tiết trong việc xây dựng: cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật, kết cấu, thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng của tác giả…
* Bình luận
– Khẳng định sự đúng đắn của nhận định.
– Bàn bạc, mở rộng:
+ Không phải bất cứ chi tiết nào trong truyện ngắn cũng được coi như “nhãn tự” trong bài thơ tứ tuyệt. Vì vậy, việc phát hiện được những chi tiết đắt giá cũng rất quan trọng.
+ Bên cạnh chi tiết nghệ thuật, sự thành công của truyện ngắn còn được quyết định bởi rất nhiều yếu tố khác như: cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật, kết cấu…
– Bài học đối với người sáng tạo và người tiếp nhận:
+ Nhà văn phải dồn tâm lực để sáng tạo nên những chi tiết nghệ thuật đặc sắc.
+ Người đọc: Cảm nhận được những lớp trầm tích ý nghĩa trong từng chi tiết, đặt các chi tiết trong hệ thống, trong chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm để phân tích, bình giá.
Kết bài
– Khẳng định lại vấn đề
* Trên đây, chúng tôi đã hệ thống một số dạng bài về chi tiết nghệ thuật và cách thức thực hiện. Nhưng trên thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có những kiểu bài không yêu cầu phân tích, cảm thụ chi tiết nghệ thuật một cách trực tiếp (phân tích nhân vật, phân tích tình huống, giá trị nhân đạo của tác phẩm…), mặc dù vậy, trong quá trình giải quyết dạng bài này, học sinh vẫn phải vận dụng những chi tiết nghệ thuật đặc sắc để làm sáng tỏ. Như vậy, tìm hiểu thấu đáo chi tiết nghệ thuật là một trong những yêu cầu cốt thiết của cả khâu đọc hiểu văn bản và thực hành làm văn của học sinh.
*****
Có ai đó đã nói: “Chi tiết nghệ thuật như một giọt nước mà qua đó ta thấy cả đại dương”. Những cây bút truyện ngắn bậc thầy như Lỗ Tấn, T.Sêkhốp, Môpátxăng, Hêmingway…đã dồn nén tư tưởng của mình vào “những chi tiết có dung lượng lớn…tạo cho tác phẩm chiều sâu chưa nói hết”. Đó chính là sức hút diệu kì, dẫn người đọc nhập vào những hành trình say mê kiếm tìm cái đẹp của nghệ thuật ngôn từ. Chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cốt truyện, tạo tình huống, nhân vật, kết cấu, thể hiện chủ đề của tác phẩm, và tư tưởng của tác giả. Hướng dẫn học sinh khai thác chi tiết trong tác phẩm tự sự không chỉ tạo cho học sinh hứng thú, giúp các em có khả năng cảm thụ tinh tế, sâu sắc, mà ở một phương diện nào đó, đây cũng chính là cách tiếp cận tác phẩm theo đặc trưng thể loại mà các nhà phương pháp giáo dục đang hết sức quan tâm.
Tìm hiểu chi tiết trong tác phẩm tự sự không phải là một vấn đề mới. Những gì chúng tôi trình bày ở sáng kiến này chỉ là ý kiến nhỏ của bản thân, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý giá của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê A (Chủ biên), Thực hành làm văn lớp 12, Nxb Giáo dục, H. 2009.
  2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
  3. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học lớp 11 nâng cao, Nxb Giáo dục, H. 2007.
  4. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học lớp 12 nâng cao, Nxb Giáo dục, H. 2010.
  5. Vương Trí Nhàn, Kinh nghiệm viết truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới
  6. Nguyên Ngọc, Về một truyện ngắn – “Rừng xà nu”, Nxb Giáo dục H. 1996
  7. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục, H. 2007.
  8. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12 nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục, H. 2007.
  9. Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm một số tác giả, tác phẩm Văn học hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 2001
  10. Nguyễn Quang Trung, Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12, Nxb Giáo dục, H. 1999

 
MỤC LỤC

  1. Tên sáng kiến…………………………………………………………………….1
  2. Tác giả…………………………………………………………………………..1

III. Nội dung sáng kiến…………………………………………………………….1

  1. Giải pháp cũ thường làm…………………………………………………………1
  2. Giải pháp mới cải tiến…………………….……………………………………..2
  3. Hiệu quả kinh tế xã hội dự kiến đạt được………………………………………2
  4. Điều kiện và khả năng áp dụng………………………………………………….2

PHẦN PHỤ LỤC
CHƯƠNG I: CHI TIẾT VÀ VIỆC KHAI THÁC CHI TIẾT TRONG TRUYỆN NGẮN ………………………………………………………………….. ………   4

  1. Chi tiết trong tác phẩm văn học…………………………………………………4
  2. Khai thác chi tiết trong truyện ngắn ……………………………………………..4

2.1. Đặc trưng của truyện ngắn…………………………………………………….4
2.2. Vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn tự sự……………………….5
2.2.1. Xây dựng cốt truyện…………………………………………………………5
2.2.2. Chi tiết nghệ thuật đã tạo nên cách mở đầu hấp dẫn cho câu chuyện………. 7
2.2.3. Chi tiết nghệ thuật là yếu tố quan trọng tạo nên tình huống truyện…………8
2.2.4. Vai trò của chi tiết trong việc xây dựng hình tượng nhân vật………………10
2.2.5. Chi tiết nghệ thuật góp phần tạo nên khung cảnh………………………….14
2.2.6. Chi tiết nghệ thuật góp phần tạo nên kết cấu đặc sắc cho tác phẩm……….16
2.2.6. Chi tiết nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả…………………………………………………………………..18
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN QUA VIỆC KHAI THÁC CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT…………………………………………………22

  1. Các bước tiến hành……………………………………………………………..22
  2. Tìm hiểu “Vợ chồng A Phủ” qua việc khai thác các chi tiết nghệ thuật……….23

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ DẠNG ĐỀ VỀ CHI TIẾT TRONG TRUYỆN NGẮN TỰ SỰ……………………………………………………………………32

  1. Phân tích (cảm nhận) ý nghĩa của một chi tiết …………………………………32

1.1. Một số đề bài………………………………………………………………….32
1.2. Cách thức thực hiện ………………………………………………………….33
1.3. Ví dụ…………………………………………………………………………..33

  1. Kiểu bài so sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm………………………………..36

2.1. Một số đề bài…………………………………………………………………36
2.2. Cách thức thực hiện …………………………………………………………37
2.3. Ví dụ………………………………………………………………………. …38

  1. Dạng đề lý luận………………………………………………………………….41

3.1. Một số đề bài…………………………………………………………………41
3.2. Cách thức thực hiện …………………………………………………………..42
3.3. Ví dụ………………………………………………………………………….42

  1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

 
BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2013 – 2014

Tên sáng kiến Tác giả, đơn vị Tổ Giải pháp cũ thường làm Giải pháp mới cải tiến Hiệu quả kinh tế – xã hội Khả năng áp dụng
Chi tiết trong tác phẩm tự sự Vũ Thị Yến
Tổ: Ngữ Văn
 
Trước đây, khi đọc hiểu văn bản văn học, đôi khi chúng ta chỉ tìm hiểu khái quát đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Vì vậy, những lớp trầm tích ý nghĩa và nhiều phương diện nghệ thuật của tác phẩm chưa được phát lộ.
Cùng với bước tiến của lý luận, khi phân tích tác phẩm tự sự hiện đại theo đặc trưng thể loại, chúng ta chưa chú ý đúng mức đến chi tiết nghệ thuật. Vì vậy, bài giảng nhiều khi rơi vào khô khan, thiếu hấp dẫn. Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, chúng tôi thấy một nhược điểm phổ biến là nhiều bài viết của học sinh thường khá hời hợt, cảm nhận chung chung, xa rời văn bản và những chi tiết cụ thể, đặc sắc của tác phẩm.
Như vậy, khi không chú ý khai thác ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự, cả bài giảng của giáo viên và bài luận của học sinh đều không đạt hiệu quả cao.
Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong tác phẩm tự sự, có sức nặng như những “nhãn tự” trong một bài thơ tứ tuyệt. Vì vậy, khi phân tích tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại, tìm được những chi tiết đắt giá chúng ta đã có trong tay chìa khóa để mở ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Trong thực hành làm văn của học sinh, những bài viết biết khai thác các chi tiết nghệ thuật thường mới mẻ, sâu sắc, thể hiện sự sáng tạo riêng của các em.
Trong những năm gần đây, xu hướng ra đề trong các kì thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng,.. phần tái hiện kiến thức đã được thay thế bằng câu hỏi về những chi tiết cụ thể trong tác phẩm, và yêu cầu học sinh phải cảm nhận được vẻ đẹp, ý nghĩa của chi tiết đó.
Là một giáo viên dạy văn cấp THPT, tìm hiểu chi tiết trong tác phẩm tự sự, cũng là một cách người viết tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hơn nữa, chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ giúp học sinh tìm được một con đường đi hiệu quả, để khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong những truyện ngắn đặc sắc của các nhà văn lớn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để người viết được trao đổi với đồng nghiệp về một vấn đề quan trọng trong đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
Chúng tôi đã vận dụng sáng kiến này để ôn thi tốt nghiệp THPT, luyện thi đại học, ôn thi học sinh giỏi tỉnh, thi Ôlimpic Đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ, bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia… và đã đạt được những kết quả khả quan.
 
Nội dung sáng kiến này có thể vận dụng rộng rãi với tất cả học sinh THPT, với mục đích nâng cao hiệu quả học tập môn Ngữ văn.
 

 
Tác giả sáng kiến: Vũ Thị Yến
 Xem thêm :
Sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *