Soạn bài Ôn tập phần văn học 12 – Ngắn gọn nhất

Câu 1: Những phát hiện khác nhau về số phận và cảnh ngộ của người dân lao động trong tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài). Phân tích nét đặc sắc tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm

– Vợ nhặt (Kim Lân):

+ Tác giả đã đặt nhân vật của mình vào bối cảnh nạn đói năm 1945.

+ Các nhân vật trong truyện đều là những người nông dân nghèo khổ, thậm chí là dân ngụ cư.

+ Giá trị nhân đạo của tác phẩm:

● Tố cáo sâu sắc tội ác của bọn thực dân, phát xít và tay sai vì chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945.

● Trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

● Niềm tin của tác giả đặt vào những khát vọng bình dị mà chân chính những con người vẫn muốn sống, vẫn khát khao tình thương và sự gắn bó, việc nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.

– Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài):

+ Tô Hoài đã khắc họa rõ nét hình ảnh những kiếp người đau khổ trong xã hội cũ. Dù bị vùi dập tưởng chừng không thể nào ngẩng đầu lên được, hai người nô lệ Mị và A Phủ vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt.

+ Tô Hoài lựa chọn nhân vật là những người dân tộc Mông ở miền Tây Bắc

+ Giá trị nhân đạo:

● Sự cảm thông với số phận của những con người bất hạnh.

● Phát hiện, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người, nhất là tình yêu tự do và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người dân miên núi.

● Phê phán sâu sắc bọn quan lại phong kiến miền núi, thể hiện thái độ căm giận trước những thế lực chà đạp con người.

Câu 2.

a. Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Trung Thành trong Rừng xà nu.

– Chọn một loại cây rất gần gũi với đời sống của đồng bào Tây Nguyên và xây dựng hình ảnh ấy thành biểu tượng đẹp đẽ, đặc sắc, tiêu biểu cho sức sống mãnh liệt và ý chí kiên cường, bất khuất của đồng bào Tây Nguyên trong công cuộc chống Mĩ cứu nước – hình tượng rừng xà nu.

– Chọn cách thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hình ảnh một tập thể nhân dân anh hùng, đó là dân làng Xô man.

– Chủ đề của truyện là chân lí của thời đại cách mạng: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.

b. Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình.

– Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong tác phẩm được thể hiện sắc nét trong truyền thống anh dũng, đáng tự hào của một gia đình. Tiêu biểu cho ý tưởng đó của tác giả là hình ảnh hai chị em Chiến và Việt.

– Chọn một gia đình để viết truyện, ý tưởng của nhà văn chính là để nói lên sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng khi nó đã thấm sâu đến từng người dân, đặc biệt nó đầy ắp trong tim thế hệ trẻ.

– Nguyễn Thi đã xây dựng rất thành công kiểu nhân vật đánh Mĩ trong gia đình, đặc biệt là Chiến và Việt.

Câu 3. Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

Dàn bài:

a – Định nghĩa tình huống truyện

b – Tình huống truyện trong “Chiếc thuyền ngoài xa” được xây dựng qua việc phát hiện ra những nghịch lí của Phùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh săn tìm cái đẹp ở ngoài bãi biển và ở toà án huyện

– Ở ngoài bãi biển

+ Nghệ sĩ Phùng đã phát hiện ra một cảnh đẹp trời cho. Nhưng đằng sau cái vẻ đẹp ấy mới là sự thực của cuộc đời.

– Trong toà án huyện là nghịch lí: người đàn bà hàng chài van xin để toà cho chị được sống cùng người chồng vũ phu.

c. Ý nghĩa tình huống truyện:

– Không nên tách rời nghệ thuật với cuộc đời, cần phải rút ngắn khoảng cách giữa cuộc đời và nghệ thuật; nghệ sĩ không được nhìn cuộc đời bằng con mắt đơn giản, dễ dãi, phải có tấm lòng, có can đảm, và biết trăn trở về con người.

d. Kết luận

-Tình huống truyện là một thành công lớn của truyện ngắn nói chung và của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” nói riêng.

-Với tình huống truyện độc đáo sẽ tạo ra tài năng của tác giả.

Câu 4. Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ.

Tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt gửi gắm một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: Cuộc sống thật đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được. Con người phải luôn đấu tranh với bản thân đế vươn tới sự thống nhất, hài hoà giữa linh hồn và thể xác, hướng tới sự hoàn thiện nhân cách.

Câu 5. Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp

*Ý nghĩa tư tưởng:

– Khẳng định sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến của nhân dân Nga trong sự nghiệp bảo vệ xây dựng tổ quốc và tin tưởng vào tính cách Nga kiên cường và nhân hậu. Đồng cảm trước vô vàn khó khăn trở ngại mà con người phải vượt qua trên con đường vươn tới tương lai và hạnh phúc.

* Đặc sắc nghệ thuật:

– Tác phẩm được kể theo ngôi thứ nhất, kết cấu theo trình tự thời gian. Truyện viết theo kiểu truyện lồng trong truyện. Tác phẩm có hai người kể chuyện: Người kể chuyện – tác giả và người kể chuyện – nhân vật;

– Sô- lô- khốp tạo được nhiều tình huống nghệ thuật đặc sắc để thử thách, khám phá chiều sâu tính cách Nga, con người Nga.

Câu 6. Trong truyện ngắn Thuốc, Lỗ Tấn phê phán bệnh gì của người Trung Quốc đầu thế kỉ XX? Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm?

Thuốc đề cập đến một vấn đề đó là sự u mê, đớn hèn, mông muội về chính trị xã hội của quần chúng và bi kịch không được hiểu, không được ủng hộ của những người cách mạng tiên phong.

– Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

+ Khắc họa các hình ảnh, nhân vật: tác giả triển khai nhiều điểm nhìn về phía nhân vật Hạ Du, nhân vật Hạ Du được miêu tả gián tiếp qua suy tư, lời đối thoại của nhiều nhân vật.

+ Về nghệ thuật trần thuật: truyện được kể theo ngôi thứ ba. Thuốc là tác phẩm hiện thực phê phán nhưng lại có yếu tố lãng mạn tích cực

Câu 7: Ý nghĩa biểu tượng của đoạn trích Ông già và biển cả:

– Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình:

– Con cá kiếm là đại diện cho tính chất kiêu hùng, vĩ đại của tự nhiên:

– Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn, vừa là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ vừa bình thường giản dị nhưng đồng thời cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng theo đuổi một lần trong đời.

Soạn bài Ôn tập phần văn học – Ngữ Văn lớp 12

1. Những phát hiện khác nhau về số phận và cảnh ngộ của người dân lao động trong tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài). Phân tích nét đặc sắc tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm

 

Vợ nhặt

Vợ chồng A Phủ

Số phận và cảnh ngộ của con người

Đặt nhân vật vào tình cảnh thê thảm của người dân lao động trong nạn đói 1945, tác giả đã dựng lên không khí tối tăm, ảm đạm bao trùm xóm ngụ cư; những người nông dân nghèo khổ, thậm chí là dân ngụ cư, gặp nhau trong tình huống truyện oái oăm: “vợ nhặt”

Số phận bi thảm của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến trước cách mạng một cổ đôi ba tròng xiết chặt: thực dân Pháp, chế độ phong kiến (thông lí Pá Tra), những quan niệm mê tín dị đoan và những hủ tục ngày xưa.

Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm

–    Đi sâu lí giải, phân tích hiện thực bằng cái nhìn vừa đau xót, vừa căm giận

–     Ngợi ca tình người cao đẹp, khát vọng sống, hạnh phúc và hi vọng vào một tương lai tươi sáng

– Ngợi ca sức sống tiềm tàng của con người và con đường họ tự giải phóng, đi theo cách mạng.

 2. Các tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Hãy so sánh để làm rõ những khám phá, sáng tạo riêng của từng tác phẩm trong việc thể hiện của chủ đề chung đó.

a. Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Trung Thành trong Rừng xà nu.

–   Chọn một loại cây rất gần gũi với đời sống của đồng bào Tây Nguyên và xây dựng hình ảnh ấy thành biểu tượng đẹp đẽ, đặc sắc, tiêu biểu cho sức sống mãnh liệt và ý chí kiên cường, bất khuất của đồng bào Tây Nguyên trong công cuộc chống Mĩ cứu nước – hình tượng rừng xà nu. Miêu tả rừng xà nu thành một nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ và tráng lệ cho cuộc chiến đấu anh hùng của dân làng Xô man chống Mĩ, tô đậm chất sử thi hào hùng cho câu chuyện.

–   Chọn cách thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hình ảnh một tập thể nhân dân anh hùng, đó là dân làng Xô man. Phát hiện ra vẻ đẹp riêng của từng con người trong thời kì chống Mĩ gắn với số phận, tính cách và phẩm chất của họ: cụ Mết (già làng), Dít (bí thư chi bộ), đặc biệt là Tnú.

–   Chủ đề của truyện là chân lí của thời đại cách mạng: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.

b. Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình.

–   Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong tác phẩm được thể hiện sắc nét trong truyền thống anh dũng, đáng tự hào của một gia đình. Tiêu biểu cho ý tưởng đó của tác giả là hình ảnh hai chị em Chiến và Việt.

–   Chọn một gia đình để viết truyện, ý tưởng của nhà văn chính là để nói lên điều sâu xa: gia đình là tế bào của xã hội, một gia đình bình thường đã lần lượt như thế, thì cả miền Nam, cả nước sẽ như thế nào? Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng khi nó đã thấm sâu đến từng người dân, đặc biệt nó đầy ắp trong tim thế hệ trẻ.

–   Nguyễn Thi rất hiểu con người miền Nam, đặc biệt là “kiểu người út Tịch”, sinh ra là để đánh giặc cứu nước, mà đã đánh giặc thì dũng cảm, gan góc không ai bằng. Vì thế, ông đã xây dựng rất thành công kiểu nhân vật đánh Mĩ trong gia đình, đặc biệt là Chiến và Việt.

3. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?

Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa rất phong phú và sâu sắc.

–   Cuộc sống có những nghịch lí mà con người buộc phải chấp nhận., “sống chung” với nó.

–    Muốn con người thoát ra khỏi cảnh đau khổ, tối tăm, man rợ cần có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp nhưng xa rời thực tiễn.

–   Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa giống như một gợi ý về khoảnh cách, về cự li nhìn ngắm đời sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng. Khi quan sát từ “ngoài xa” người nghệ sĩ không thể thấy hết những mảng tối, những góc khuất. Chủ nghĩa nhân đạo trong nghệ thuật không thể xa lạ với số phận cụ thể của con người. Nghệ thuật mà không vì cuộc sống con người thì nghệ thuật phỏng có ích gì. Người nghệ sĩ khi thực sự sống cuộc sống, thực sự hiểu con người thì mới có những sáng tạo nghệ thuật có giá trị đích thực góp phần cải tạo cuộc sống.

4. Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ.

a. Khái quát chung.

–  Tác giả, tác phẩm

–    Đoạn trích đã thể hiện rõ quan điểm của Lưu Quang Vũ về việc phê phán một số tiêu cực trong lối sống đương thời.

b. Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích:

–   Đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt phản ánh cuộc đấu tranh giữa hồn và xác, sự tìm lại chính mình, đề cao cái sống đích thực của con người.

–   Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ trước hết thể hiện ở sự phê phán một số biểu hiện tiêu cực của lối sống đương thời, cần xác định rõ, qua vở kịch, Lưu Quang Vũ đã phê phán quan niệm sống và tình trạng sống như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, phải nắm được hai bình diện cơ bản của vở kịch:

–   Mâu thuẫn giữa linh hồn và thể xác, giữa đạo đức và tội lỗi.

–   Bi kịch của Trương Ba là bi kịch con người không được sống đúng là mình, sống thật với mình. Từ sự phê phán nói trên, tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt gửi gắm một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: Cuộc sống thật đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được. Con người phải luôn đấu tranh với bản thân đế vươn tới sự thống nhất, hài hoà giữa linh hồn và thể xác, hướng tới sự hoàn thiện nhân cách.

c. Đánh giá chung:

–   Đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt thể hiện một quan niệm sống của nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, một quan niệm sống vươn đến sự hài hoà giữa thể xác và tinh thần.

–   Thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc chính là lời khẳng định: Con người biết đến đấu tranh chống lại nghịch cảnh, với chính bản thân mình, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quí.

5. Ý kiến tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn số phận con người của Sô-lô-khốp.

HS cần trình bày dưực những nội dung sau:

a. Khái quát chung:

–   Sô-lô-khốp là nhà văn vĩ đại của Nga, được nhận giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965.

–   Truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp là một thành tựu xuất sắc, đánh dấu bước phát triển của nền văn học Xô viết. Thông qua nhân vật Xô-cô-lổp nhà văn làm nổi bật được tính cách Nga: kiên cường, dũng cảm, nhân ái, vị tha và làm sóng dậy một thời bi hùng của nhân dân Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Truyện thể hiện được nét đặc sắc về nghệ thuật qua các phương diện: miêu tả, chi tiết, cốt truyện, cách xây dựng nhân vật.

Nét đặc sắc về nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong tác phẩm

–   Cách kể chuyện: Truyện ngắn số phận con người được xây dựng theo lối truyện lồng trong truyện.

+ Tác phẩm có hai người kể chuyện: Người thứ nhất là Xô-cô-lốp, nhân vật chính: người thứ hai là tác giả.

+ Thái độ của người kể chuyện là đồng cảm sâu sắc với nhân vật chính, xúc động mãnh liệt trước số phận nhân vật này. Điều đó tạo nên chất trữ tình sâu sắc của tác phẩm.

–   Truyện cũng có một đoạn trữ tình ngoại đề ở phần cuối bày tỏ sự đồng cảm, lòng tin tưởng và sự khâm phục của tác giả đối với một tính cách Nga kiên cường và nhân hậu.

+ Nhà văn tin tưởng vào một thế hệ tương lai qua hình ảnh chú bé Va-ni-a: Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bé, chú bé kia một khi lớn lên sẽ đương đầu với mọi thử thách.

+ Đó cũng là lời nhắc nhở, kêu gọi sự quan tâm của toàn xã hội đối với một số phận cá nhân sau chiến tranh.

+ Cách kể chuyện này tạo ra một phương thức miêu tả lịch sử mới: Lịch sử trong mối quan hệ mật thiết với số phận cá nhân.

–   Cốt truyện và chi tiết cũng thể hiện rõ bút pháp hiện thực táo bạo của Sô-lô-khốp, tôn trọng tính chân thật.

+ Tác phẩm không tô hồng hiện thực bằng lối kết thúc có hậu mà báo trước vô vàn khó khăn trở ngại mà con người phải vượt qua trên con đường tìm kiếm hạnh phúc.

+ Sô-lô-khốp đã miêu tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó, thể hiện một cách nhìn mới, cách mô tả mới hiện thực cuộc sống sau chiến tranh. Tác giả đã sáng tạo nhiều tình huống nghệ thuật, nhiều chi tiết tình tiết, cảm động để khám phá chiều sâu tính cách nhân vật (cảnh nhận con, những giọt nước mắt của vợ người bạn, giấc ngủ của bé Va-ni-a…).

–   Nhân vật trong tác phẩm là những con người bình thường, thậm chí nhỏ bé với tất cả các quan hệ phức tạp, đa dạng, tiêu biểu cho số phận con người trong chiến tranh. Tác giả ví hai cha con Xô-lô-khốp là “hai con người côi cút, hai hạt cát đó bị.. bão tố chiến tranh thổi bay tới những miền xa lạ”. Hoàn cảnh đau khổ ghê gớm của Xô-cô-lốp đã làm nổi bật tâm hồn nhân hậu và tính cách kiên cường của anh. Đó là những con người bình thường mà vĩ đại, hình ảnh của nhân dân Nga.

–   Số phận con người của Sô-lô-khốp đã khiến ta suy nghĩ nhiều hơn đến số phận của từng con người cụ thể sau chiến tranh. Tác phẩm đã khẳng định một cách viết mới về chiến tranh: không phải né tránh mất mát, không say sưa với chiến thắng mà biết cảm nhận, chia sẻ những đau khố tột cùng của con người sau chiến tranh, từ đó mà tin yêu hơn đối với con người. Số phận con người khẳng định sức mạnh của lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, nghị lực con người. Tất cả những điều đó sẽ nâng đỡ con người vượt lên số phận.

c. Đánh giá chung:

–   Tác phẩm dược coi là “tiểu anh hùng ca”, một mốc mới trên con đường phát triển văn học.

–   Số phận con người thể hiện tài năng của nhà văn Sô-lô-khôp thì “ca ngợi nhân dân – người lao động, nhân dân – người xây dựng, nhân dân anh hùng”.

6. Trong truyện ngắn Thuốc, Lỗ Tấn phê phán phê bệnh gì của người Trung Quốc dầu thế kỉ XX? Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm?

HS cần trình bày được những nội dung sau:

Khái quát chung:

–  Lỗ Tấn là nhà văn hiện thực lớn của nền văn học Trung Quốc.

–  Thuốc là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Lỗ Tấn. Nhan đề của truyện gợi lên những liên tưởng độc đáo và có ý nghĩa phê phán đậm nét

–   Nhà văn không có ý định mà cũng không đặt ra vấn đề bốc thuốc cho xã hội mà chỉ muốn “lôi hết bệnh tật của quốc dân, làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy chữa”.

Những căn bệnh của người Trung Quốc đầu thế kỉ XX mà Lỗ Tấn chỉ ra trong tác phẩm:

–     Bệnh u mê lạc hậu của người dân qua hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu của người cách mạng Hạ Du.

–  Bệnh xa rời quần chúng của những người cách mạng tiên phong.

–  Một số nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm:

+ Cốt truyện đơn giản nhưng hàm súc.

+ Các chi tiết, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng. Đặc biệt là hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu, hình ảnh con đường, hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du…

+ Không gian, thời gian của truyện là một tín hiệu nghệ thuật có ý nghĩa. Đánh giá chung:

–   Nét đặc sắc về nghệ thuật ở đây chính là xây dựng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao, nhiều liên tưởng.

-Tác phẩm đã góp phần chữa bệnh quốc dân tính cho người dân Trung Quốc, giúp họ ý thức hơn về mình trong cuộc đấu tranh với đói nghèo, lạc hậu và ngoại xâm.

7. Ý nghĩa biểu tượng trong đoạn trích Ông già và biển cả của Hê-minh-uê?

HS cần trình bày được những nội dung sau:

a. Khái quát chung:

–   Hê- minh-uê là nhà văn nổi tiếng của Mĩ, thuộc thế hệ phải chịu nhiều mất mát trong chiến tranh, là nhà văn được trao giải Nô-en về văn chương năm 1954

–   Hê-minh-uê là nhà văn có công đóng góp lớn cho nền văn xuôi hiện đại thế giới, đặc biệt là nghệ thuật đối thoại cũng như việc thể hiện niềm tin bất diệt vào ý chí, nghị lực và lương tri của con người.

–   Ông già và biển cả là tác phẩm tiêu biểu cho văn phong của Hê-minh- uê, đặc biệt là tính đa nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật.

b. Ý nghĩa biểu tượng trong tác phẩm:

–   Ông lão và con cá kiếm: Hai hình tượng mang một vẻ đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng đối lập

–   Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình:

+ Ông lão ngư phủ lành nghề, một mình đơn độc trong cuộc chiến đấu, dũng cảm và mưu trí thực hiện ước mơ bắt bằng được con cá lớn của cuộc đời mình.

+ Cảm nhận của ông lão về “đối thủ” – con cá kiếm – không hề nhuốm màu hằn thù, ngược lại, ông gần như cảm kích và chiêm ngưỡng, thậm chí pha lẫn niềm tiếc nuôi nếu phải giết nó. Đây cũng là điểm làm nên vẻ đẹp cao thượng của ông lão.

–  Con cá kiếm là đại diện cho tính chất kiêu hùng, vĩ đại của tự nhiên:

+ Khi bị mắc phải lưỡi câu của ông lão, nó không lặn xuống để nhấn chìm con thuyền, không vùng vẫy để thoát ra mà kéo ông lão ra khơi, chấp nhận một cuộc đấu sức với ông lão.

+ Những vòng lượn của nó, những cố gắng cuối cùng nhưng hết sức mãnh liệt của con cá chứng tỏ sự dũng cảm kiên cường không kém gì đối thủ của nó.

+ Con cá kiếm chính là hình ảnh của lí tưởng, của ước mơ mà mỗi người theo đuổi trong cuộc đời.

+ Sự khác biệt giữa hình ảnh đẹp đẽ cuối cùng của con cá khi chưa bị chiếm lĩnh mang một ý nghĩa riêng, phải chăng đó là hình ảnh chuyển từ ước mơ sang hiện thực – nó không còn xa vời và khó nắm bắt và cũng chính vì thế, nó không còn đẹp đẽ, huy hoàng như trước nữa.

–  Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người, không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ bình thường, giản dị nhưng cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng đeo đuổi một lần trong đời.

Đánh giá chung:

–   Đoạn trích giàu tính biểu tượng, là minh chứng cho nguyên lí tảng băng trôi của nhà văn Hê-minh-uê.

Soạn văn lớp 12: Ôn tập phần văn học lớp 12 kì 2

I. NỘI DUNG ÔN TẬP

1. Văn học Việt Nam: Vợ chồng A Phủ; Vợ nhặt; Rừng xà nu; Những đứa con trong gia đình; Chiếc thuyền ngoài xa; Một người Hà Nội..

2. Văn học nước ngoài: Thuốc, Số phận con người, Ông già và biển cả.

II. PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP

A. VĂN HỌC VIỆT NAM

Câu 1:

a. Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài):

– Số phận và cảnh ngộ của con người: Số phận bi thảm của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến trước cách mạng một cổ đôi ba tròng xiết chặt: thực dân Pháp, chế độ phong kiến (thống lí Pá Tra), những quan niệm mê tín dị doan và những hủ tục xa xưa.

– Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm: Ngợi ca sức sống tiềm tàng của con người và con đường họ tự giải phóng, đi theo cách mạng.

b. Vợ nhặt (Kim Lân):

– Số phận và cảnh ngộ của con người: Đặt nhân vật vào tình cảnh thê thảm của người dân lao động trong nạn đói 1945, tác giải đã dựng lên không khí tối tăm, ảm đạm bao trùm xóm ngụ cư, những người nông dân nghèo khổ, thậm chí là dân ngụ cư, gặp nhau trong tình huống truyện oái oăm: “vợ nhặt“.

– Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm:

+ Đi sâu lí giải, phân tích hiện thực bằng cái nhìn vừa đau xót, vừa căm giận.

+ Ngợi ca tình người cao đẹp, khát vọng sống, hạnh phúc và hi vọng vào một tương lai tươi sáng.

Câu 2: Về hình tượng nhân vật của hai truyện ngắn:

a. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước tiên thể hiện ở những nhân vật mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, từ đau thương trỗi dậy để chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược:

– Họ đều là những người con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc:

+ Tnú là người con của làng Xô Man, nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ “Đảng còn thì núi nước này còn” – Lời cụ Mết. (Rừng xà nu)

+ Chiến và Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nứơc, căm thù giặc: Cha là cán bộ cách mạng, má là người phụ nữ Nam bộ kiên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lí tưởng của cha mẹ. (Những đứa con trong gia đình)

– Họ đã chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc:

+ Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay.

+ Chiến và Việt chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc.

–> Những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam.

– Họ đều mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, là những con người Việt Nam kiên trung trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm:

+ Tnú từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt được, tra tấn dã man vẫn không khai. Anh vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù Ở Tnú toát lên vẻ đẹp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ.

+ Việt bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé. Còn trước kẻ thù, Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.

–> Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở từng nhân vật, mà còn thể hiện ở tập thể nhân vật anh hùng, và mỗi nhân vật đều tượng trưng cho phẩm chất của cả cộng đồng: Cụ Mết, Mai, Dít, Heng trong “Rừng xà nu“; ba, má, chú Năm trong “Những đứa con trong gia đình“. Họ đều là những con người yêu quê hương đất nước, gắn bó với buôn làng, với gia đình, với người thân yêu. Tình yêu tổ quốc của họ bắt đầu từ những tình cảm bình dị đó, cho nên nó càng bền bỉ, càng có sức mạnh lớn lao khiến kẻ thù phải run sợ.

b. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn thể hiện ở sức sống bất diệt của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu ác liệt:

+ Dân làng Xô Man như rừng cây xà nu mặc dù “Trong rừng hàng vạn cây, không cây nào không bị thương“, nhưng vẫn “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng“, một cây ngã xuống thì bốn năm cây con mọc lên. Mai hi sinh thì Dít vươn lên thay thế, Heng như cây xà nu non hứa hẹn trở thành cây xà nu cường tráng tiếp nối cha anh. Tầng tầng, lớp lớp những người dân Xô Man Tây Nguyên tiếp nối đứng lên kiên cường chiến đấu với quân thù để bảo vệ quê hương đất nước mình.

+ Ông nội bị giặc giết, cha của Chiến và Việt trở thành cán bộ Việt Minh, cha bị giết hại dã man, má Việt tiếp tục nuôi con và chiến đấu, đến khi má ngã xuống thì anh em Chiến và Việt lại tiếp nối con đường chiến đấu, thực hiện lí tưởng của gia đình, và trong dòng sông truyền thống của gia đình, họ là khúc sông sau nên hứa hẹn đi xa hơn cả thế hệ trước.

–> Sự tiếp nối và kế thừa đó đã làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam thời chống Mĩ, là sức sống bất diệt giúp họ vượt qua bao đau thương do kẻ thù gây ra để tiếp tục chiến đấu và chiến thắng.

c. Về chất sử thi trong hai truyện ngắn: Góp phần thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Nghệ thuật sử thi đòi hỏi tác phẩm tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước; phản ánh được chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

+ Đề tài: cuộc chiến đấu của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược.

+ Chủ đề: ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.

+ Nhân vật chính: Là những con người tiêu biểu cho cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu hi sinh.

+ Giọng văn: ngợi ca, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn cách mạng.

–> Hai truyện ngắn là hai bản anh hùng ca thời đại đánh Mĩ.

Câu 3:

Tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa“:

Tình huống truyện trong “Chiếc thuyền ngoài xa” được xây dựng qua việc phát hiện ra những nghịch lí của Phùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh săn tìm cái đẹp ở ngoài bãi biển và ở toà án huyện.

– Ở ngoài bãi biển:

+ Nghệ sĩ Phùng đã phát hiện ra một cảnh đẹp trời cho trên một vẻ đẹp mờ sương, mặt biển mà cả đời bấm máy anh chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần: hình ảnh chiếc thuyền lướt vó nhạt nhoà trong làn sương mù màu trắng buổi bình minh… Phát hiện ấy khiến người nghệ sĩ cảm thấy sung sướng hạnh phúc, tưởng tâm hồn mình được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi, bắt gặp các tận Thiện, tận Mĩ.

+ Nhưng ngay sau đó, người nghệ sĩ lại phát hiện ra một sự thực trớ trêu và đầy nghịch lí như trò đùa quái ác của cuộc sống. Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí mệt mỏi và cam chịu, một lão đàn ông thô kệch dữ dằn độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách giải toả những ấm ức khổ đau. Phùng cay đắng nhận thấy: hoá ra đằng sau cái vẻ đẹp thơ mộng của “chiếc thuyền ngoài xa” trên biển sớm mờ sương lại là một sự thực tàn nhẫn của bi kịch gia đình. Đằng sau cái vẻ đẹp ấy mới là sự thực của cuộc đời. Cái vẻ đẹp bên ngoài ấy nhiều khi thường đánh lừa ta như vậy.

– Trong toà án huyện là nghịch lí: người đàn bà hang chài van xin để toà cho chị được sống cùng người chồng vũ phu. Câu chuyện về cuộc đời chị đã giúp cho nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu “ngộ” ra được những chân lí sâu sắc, éo le của cuộc đời.

Ý nghĩa tình huống truyện:

– Giúp nhà văn gửi gắm những thông điệp tư tưởng và nghệ thuật: cái bên ngoài chưa hẳn là bản chất thật bên trong, nhiều khi còn đối lập với phẩm chất bên trong, không phải bao giờ cái Đẹp cũng thống nhất với cái Thiện, vì thế, cần phải có cái nhìn đa chiều sâu sắc, cảm thông với cuộc sống và con người. Thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật về trách nhiệm người nghệ sĩ: Không nên tách rời nghệ thuật với cuộc đời, cần phải rút ngắn khoảng cách giữa cuộc đời và nghệ thuật; nghệ sĩ không được nhìn cuộc đời bằng con mắt đơn giản, dễ dãi, phải có tấm lòng, có can đảm, và biết trăn trở về con người.

– Tình huống truyện góp phần làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm:

+ Giá trị hiện thực: Cuộc sống đói nghèo lạc hậu tăm tối là nguyên nhân dẫn tới nạn bạo hành gia đình. Cuộc chiến đấu bảo vệ quyền sống của cả dân tộc trải qua bao hi sinh gian khổ nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống của từng con người còn đầy cam go, lâu dài, cần có sự quan tâm của cách mạng, của cộng đồng.

+ Giá trị nhân đạo: Sự chia sẻ cảm thông của tác giả với những số phận đau khổ tủi nhục của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội. Lên án, đấu tranh với cái xấu, cái ác vẫn còn tồn tại trong từng gia đình. Phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động.

Câu 4: Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt

– Cuộc sống của con người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình muốn và theo đuổi còn quý giá hơn. Cuộc sống hỉ thực dự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hòa giửa tâm hồn và thể xác. Không thể đem lắp những mảng ghép khập khiễng hòng tạo nên những giá trị đích thực của cuộc sống.

– Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

B. VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Câu 5: Số phận con người (M. Sô-lô-khốp):

– Nghệ thuật:

+ Miêu tả sâu sắc, tinh tế nội tâm và diễn biến tâm trạng nhân vật.

+ Lời kể chuyện giản dị, sinh động, giàu sức hấp dẫn và lôi cuốn.

+ Nhiều đoạn trữ tình ngoại đề gây xúc động mạnh cho người đọc.

– Ý nghĩa đoạn trích:

+ Con người bằng ý chí và nghị lực, lòng nhân ái và niềm tin vào tương lai, cần và có thể vượt qua những mất mát do chiến tranh và bi kịch của số phận.

+ Cảm thông, chia sẻ với những đau thương mất mát – di chứng của chiến tranh, cùng những khó khăn trong cuộc mưu sinh thường nhật của họ.

+ Lên án bão tố của chiến tranh phi nghĩa và sức mạnh phũ phàng của nó.

+ Nói lên những khát vọng thầm kín mãnh liệt, tin tưởng vào nghị lực, ý chí vươn lên làm chủ số phận của con người.

Câu 6: Thuốc (Lỗ Tấn):

– Nghệ thuật:

+ Cốt truyện đơn giản nhưng hàm súc.

+ Hình ảnh, ngôn từ giàu tính biểu tượng.

+ Lối dẫn truyện nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu sắc, lôi cuốn.

– Truyện ngắn Thuốc phê phán căn bệnh gia trưởng, lạc hậu, u mê trầm kha của người Trung Quốc thời bấy giờ. Đồng thời phê phán sự lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc.

– Ý nghĩa truyện Thuốc:

+ Người Trung Quốc cần có một thứ thuốc để chữa trị tận gốc căn bệnh mê muội về tinh thần.

+ Nhân dân không nên “ngủ say trong cái nhà hộp bằng sắt“.

+ Người cách mạng không nên “bôn ba trong chốn quạnh hiu” mà phải bám sát quần chúng để vận động, giác ngộ họ.

Câu 7: Ông già và biển cả (Ơ. Hê-minh-uê):

Ý nghĩa biểu tượng trong tác phẩm:

– Ông lão và con cá kiếm. Hai hình tượng mang một vẻ đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng đối lập.

– Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình:

+ Ông lão ngư phủ lành nghề, một mình đơn độc trong cuộc chiến dũng cảm và mưu trí thực hiện ước mơ bắt bằng được con cá lớn của đời mình.

+ Cảm nhận của ông lão về “đối thủ” – con cá kiếm – không hề thù hằn mà ngược lại, ông gần như cảm kích và chiêm ngưỡng, thậm chí pha lẫn niềm tiếc nuối nếu phải giết nó. Đây cũng là điểm làm nên vẻ đẹp hình tượng của ông lão.

– Con cá kiếm là đại diện cho tính chất kiêu hùng, vĩ đại của tự nhiên:

+ Khi bị mắc phải lưỡi câu của ông lão, nó không lặn xuống để nhấn chìm con thuyền, không vùng vẫy để thoát ra mà kéo ông lão ra khơi, chấp nhận một cuộc đấu sức với ông lão.

+ Những vòng lượn của nó, những cố gắng cuối cùng nhưng hết sức mãnh liệt của con cá đó chứng tỏ sự dũng cảm kiên cường không kém gì đối thủ của nó.

+ Con cá kiếm chính là hình ảnh lí tưởng, của ước mơ mà mỗi người theo đuổi trong cuộc đời.

+ Sự khác biệt giữa hình ảnh đẹp đẽ cuối cùng của con cá khi chưa bị chiếm lĩnh mang một ý nghĩa riêng, phải chăng đó là hình ảnh chuyển từ ước mơ sang hiện thực – nó không còn xa với và khó nắm bắt và cũng chính vì nó không còn đẹp đẽ, huy hoàng như trước nữa.

– Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn, vừa là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ vừa bình thường giản dị nhưng đồng thời cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng theo đuổi một lần trong đời.

Tagged:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *