Nhân vật giao tiếp – Ngữ văn 12

Soạn bài Nhân vật giao tiếp – Ngắn gọn nhất

Câu 1. Đọc đoạn trích (SGK-tr.18) và trả lời câu hỏi:

a. Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp đã cho là:

– Về lứa tuổi: cùng độ tuổi với nhau (thanh niên).

– Về giới tính: khác nhau.

– Về tầng lớp xã hội: cùng tầng lớp, đều là những người nông dân.

b.

– Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói – người nghe rất nhịp nhàng trong khi người này nói thì người khác nghe. Sự luân phiên lượt lời là: mấy cô gái chờ việc – “thị” – Tràng – “thị”.

– Lượt lời đầu tiên của nhân vật “thị” hướng đến hai đối tượng. Lượt lời này gồm hai câu.

+ Câu thứ nhất “Có khối cơm trắng mấy giò đấy” hướng đến mấy cô bạn ngồi chờ việc với mình.

+ Câu thứ hai: “Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?” hướng đến nhân vật Tràng.

c. Các nhân vật giao tiếp trên đều bình đẳng về vị thế xã hội kể cả lứa tuổi và tầng lớp xã hội.

d. Đầu tiên, họ có quan hệ xa lạ chưa hề quen biết nhau.

e. Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp chi phối lời nói của các nhân vật:

– Có vị thế xã hội bình đẳng, gần nhau về độ tuổi và nghề nghiệp nên các nhân vật nói năng suồng sã, không câu nệ cách thức.

– Do sự khác nhau về giới tính nên các cô gái gọi Tràng là “anh”.

– Do xa lạ với nhau nên các nhân vật giao tiếp ít dùng các đại từ nhân xưng.

2. Đọc đoạn trích (SGK, tr.19) và phân tích theo các câu hỏi nêu bên dưới.

a. Trong đoạn trích đã cho, có các nhân vật giao tiếp: bá Kiến, Chí Phèo.

Đối tượng người nghe của những trường hợp bá Kiến nói:

– Lượt lời 1 và 2, bá Kiến nói với nhiều người nghe (các bà vợ của hắn; dân làng).

– Lượt lời 3 đến lượt lời 8, hắn nói với một người nghe (Chí Phèo).

– Lượt lời 9, hắn nói với hai người nghe (Chí Phèo và lí Cường).

b. Vị thế của bá Kiến đối với từng người nghe và sự chi phối của vị thế đó đối với cách nói và lời nói của hắn:

– Với các bà vợ, hắn là chồng, là người trên nên hắn “quát” các bà, ra lệnh cho họ “đi vào nhà” và mắng “đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?”.

– Với dân làng, hắn vẫn là một người có uy hơn, hắn nói “dịu giọng hơn một chút” nhưng ý tứ của câu nói là yêu cầu bọn họ giải tán, thậm chí trách: “Có gì mà xúm lại như thế này?”.

– Với Chí Phèo, bá Kiến hơn hẳn về vị thế xã hội, tuổi tác,… Nhưng trong trường hợp này, bá Kiến là kẻ bị kết tội. Bởi vậy, với Chí Phéo, bá Kiến hết sức nhỏ nhẹ, ân cần “khẽ lay mà gọi”, “thân mật hỏi”, “xốc Chí Phèo”… gọi Chí là “anh”

– Với lí Cường, bá Kiến là cha nên hắn có thể “quát” con. Mặt khác, hai cha con hắn là những kẻ “cùng hội cùng thuyền”, vì vậy, khi mắng con, hắn còn “đưa mắt nháy con một cái” hàm ý nhắc nhở con trong việc xử lí tình huống.

c. Đối với Chí Phèo, bá Kiến đã thực hiện chiến lược giao tiếp như nhau:

– Bá Kiến đuổi hết mọi người đi để dễ đối phó, lừa gạt Chí. – Bá Kiến “hạ nhiệt” cơn tức của Chí Phèo bằng cả hành động và lời nói. Hắn nói với Chí Phèo hết sức nhỏ nhẹ, ân cần.

– Bá Kiến nâng vị thế của Chí Phèo lên ngang hàng với mình: gọi Chí là “anh” – tỏ ý coi trọng Chí, coi Chí như bạn bè. Đặc biệt là chi tiết bá Kiến nhận là có họ với Chí Phèo.

– Bá Kiến kết tội lí Cường và yêu cầu lí Cường phải tiếp đón Chí Phèo”. Việc làm ấy thực chất là để lừa Chí Phèo.

d. Với chiến lược giao tiếp như trên, bá Kiến đã đạt được mục đích giao tiếp, hiệu quả giao tiếp rất tốt: Chí Phèo sau khi nghe bá Kiến nói mấy câu đã “càng thấy lòng nguôi nguôi”, “ngồi lên”. Những người nghe trong cuộc hội thoại với bá Kiến chỉ còn biết lặng lẽ làm theo tất cả những gì hắn nói.

Luyện tập

Câu 1: Trong đoạn trích có hai nhân vật giao tiếp, đó là anh Mịch và ông Lí. Họ ở chung một làng nghĩa là có quen biết với nhau nhưng ông Lí có vị thế cao là chức sắc trong làng. Còn anh Mịch ở vị thế thấp, là hạng nghèo khổ, cùng đinh trong làng. Vị thế xã hội đã chi phối sâu sắc đến việc giao tiếp của các nhân vật trong đoạn trích trên.

– Anh Mịch có những điệu bộ hết sức đáng thương, tội nghiệp “nhăn nhó”; từ xưng hô “ông – con” tỏ ý hạ mình thật thấp mà nâng vị thế lí trưởng lên; cách dùng từ cũng tỏ ý hạ mình: “Lạy” (được dùng đến 4 lần), “Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy”,… liên tục sử dụng câu cầu khiến tỏ ý van xin thống thiết: “ông làm phúc tha cho con”,…

– Ông lí trưởng điệu bộ hách dịch, lạnh lùng, tàn nhẫn: “cau mặt, lắc đầu, giơ roi… dậm dọa”; xưng hô bỗ bã “tao – mày”; câu nói cộc lốc, cụt ngủn, vô tình: “Kệ mày”, “không được à?”, “Mặc kệ chúng bay”.

Câu 2: Đoạn trích nằm trong truyện ngắn “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” của Nguyễn Ái Quốc. Va-ren là tên quan Toàn quyền mới nhậm chức ở Đông Dương, bản tính hắn vốn xảo trá, vô liêm sỉ. Đoạn trích là phần văn bản tưởng tượng kể về cảnh đường phố khi Va-ren đi qua: những tên đội Tây ra sức dọn đường, xung quanh người dân tha hồ bình luận, bàn tán về vị quan Toàn quyền mới.

– Viên đội xếp Tây là người Pháp, trong con mắt bọn thực dân Pháp khi ấy, người Việt Nam ta là kẻ “man di rọi mợ” cần được khai hóa văn minh.

– “Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! – Một chú bé con thầm thì”. Trong mắt một thằng bé con, vô tình, quan giống như một loài vật hai sừng không hơn.

-“Ồ! Cái áo dài đẹp chửa! – Một chị con gái thốt ra”.Qua câu nói đó, ta hiểu rằng, trong mắt người con gái ấy, quan hiện lên giống như một kẻ chải chuốt, lẳng lơn.

– “Ngài sắp diễn thuyết đấy! – Một anh sinh viên kêu lên”. Nhìn thấy quan Toàn quyền, anh sinh viên nọ nghĩ ngay đến việc quan sắp diễn thuyết. Chi tiết này hé lộ một đặc điểm khác của Va-ren: hắn chỉ là một tên ba hoa, khoác lác.

– “Đôi bắp chân ngài bọc ủng! – Một bác cu-li xe thở dài”. Câu nói của người cu-li xe thể hiện một góc cạnh khác của con người Va-ren: hắn là một kẻ dã man.

– “Rậm râu, sâu mắt! – Một nhà nho lẩm bẩm”. Những bậc túc học thường rất thâm thúy. “Rậm râu, sâu mắt!” là một thành ngữ chỉ kẻ thâm độc, xảo trá.

Câu 3:

a. Bà lão hàng xóm và chị Dậu tuy có sự khác nhau về tuổi tác (bà lão hàng xóm là người nhiều tuổi hơn) nhưng họ cùng tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, họ lại là hàng xóm thân tình, yêu quý và thường xót lẫn nhau. Điều đó đã chi phối đến lời nói và cách nói của hai người.

– Bà lão “lật đật chạy sang”, khi về thì “vẻ mặt băn khoăn”, đó là dáng điệu của một người thật sự quan tâm, thương xót cho hoàn cảnh người khác.

– Cả hai đề cập đến hoàn cảnh khốn cùng của nhà chị Dậu, bà lão hỏi han chị Dậu rất chân tình, khuyên bảo đầy thiện ý. Ngược lại, chị Dậu nói với bà lão với vẻ đầy biết ơn và thật thà kể lại toàn bộ nỗi bất hạnh của gia đình.

– Cách xưng hô, lời gọi đáp của họ rất thân mật nhưng vẫn tỏ ý tôn trọng nhau. Bà lão gọi anh Dậu là “bác trai”, nói trống với chị Dậu, gọi chị Dậu “Này…”. Chị Dậu gọi bà lão là “cụ” tỏ ý tôn kính, đáp lời bà lão “Cảm ơn cụ”, “Vâng”…

b. Trong đoạn trích trên, sự tương tác về hành động giữa các lượt lời nói của hai nhân vật giao tiếp là: hỏi thăm – cảm ơn; hỏi thăm về sức khỏe – trả lời chi tiết; mách bảo – nghe theo; dự định – giục giã.

c. Lời nói và cách nói của bà lão hàng xóm và chị Dậu cho thấy đây là những người láng giềng tốt, tuy nghèo khó nhưng họ luôn luôn tối lửa tắt đèn có nhau, quan tâm nhau, đồng cảm nhau và lúc nào cũng sẵn lòng giúp đỡ nhau. Trong giao tiếp, ngôn ngữ sử dụng của họ thể hiện sự tôn trọng qua lại à ứng xử lịch sự với nhau: có thăm hỏi, khuyên nhủ, cảm ơn, nghe lời…

Soạn bài Nhân vật giao tiếp – Ngữ Văn 12

SOẠN BÀI

1. Đọc ngữ liệu bài tập 1 (SGK, trang 18)

a. Hoạt động giao tiếp trên có các nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và “thị”.  Các nhân vật có đặc điểm:

–  Về lứa tuổi: họ đều là những người trẻ tuổi.

–  Về giới tính: Tràng là nam, còn lại là nữ.

–  Về tầng lớp xã hội: họ đều là những người dân lao động nghèo đói.

b. Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên như sau:

–   Lượt lời 1: Hắn (Tràng) là người nói, mấy cô gái là người nghe.

–   Lượt lời 2: Mấy cô gái là người nói, Tràng và “thị” là người nghe.

–  Lượt lời 3: “Thị” là người nói, Tràng (chủ yếu) và mấy cô gái là người nghe.

–   Lượt lời 4: Tràng là người nói, “thị” là người nghe.

Lượt lời đầu tiên của “thị” hướng tới Tràng.

c. Các nhân vật giao tiếp trên bình đẳng về vị trí xã hội (họ đều là những người dân lao động cùng cảnh ngộ).

d. Khi bắt đầu cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp trên có quan hệ hoàn toàn xa lạ.

e. Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân – sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp… chi phối lời nói của các nhân vật khi giao tiếp. Ban đầu chưa quen nên chỉ là trêu đùa thăm dò. Dần dần khi đã quen, họ mạnh dạn hơn. Vì cùng lứa tuổi, bình đẳng về vị trí xã hội, lại cùng cảnh ngộ nên các nhân vật giao tiếp tỏ ra rất suồng sã.

2. Đọc ngữ liệu bài tập 2 và trả lời câu hỏi (SGK, trang 19, 20)

a. Các nhân vật giao tiếp trong đoạn văn: Bá Kiến, mấy bà vợ Bá Kiến, dân làng và Chí Phèo.

Bá Kiến nói với một người nghe trong trường hợp quay sang nói với Chí Phèo. Còn lại, khi nói với mấy bà vợ, với dân làng, với Lí Cường, Bá Kiến nói cho nhiều người nghe (trong đó có cả Chí Phèo).

b. Vị thế xã hội của Bá Kiến với từng ngườỉ nghe.

–  Với mấy bà vợ – Bá Kiến là chồng (chủ gia đình) nên “quát”.

–  Với dân làng – Bá Kiến là “cụ lớn” thuộc tầng lớp trên, lời nói có vẻ tôn trọng (các ông, các bà) nhưng thực chất là đuổi (“Về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại thế này”).

–   Với Chí Phèo – Bá Kiến vừa là ông chủ cũ, vừa là kẻ đã đẩy Chí Phèo vào tù, kẻ mà lúc này Chí Phèo đến “ăn vạ”. Bá Kiến vừa thăm dò, vừa dỗ dành vừa có vẻ đề cao, coi trọng.

–  Với Lí Cường – Bá Kiến là cha, cụ quát con nhưng thực chất cũng để xoa dịu Chí Phèo.

c. Đối với Chí Phèo, Bá Kiến thực hiện nhiều chiến lược giao tiếp:

–  Đuổi mọi người về để cô lập Chí Phèo.

–  Dùng lời nói ngọt nhạt đế vuốt ve, mơn trớn Chí Phèo.

–  Nâng vị thế Chí Phèo lên ngang hàng với mình để xoa dịu Chí.

d. Với chiến lược giao tiếp như trên, Bá Kiến đã đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp. Những người nghe trong cuộc hội thoại với Bá Kiến đều răm rắp nghe theo lời Bá Kiến. Đến như Chí Phèo, hung hãn là thế mà cuối cùng cũng bị khuất phục.

LUYỆN TẬP

1. Phân tích sự chi phối của vị thế xã hội ở các nhân vật đối với lời nói của họ trong đoạn trích (mục 1 – SGK)

  Anh Mịch Ông Lí
Vị thế xã hội Vị thế xã hội thấp (thuộc giai cấp bị trị, bị áp bức, bóc lột, bị o ép nhiều bề); ở đây là nạn nhân bị bắt đi xem bóng đá Bề trên – Vai vê cao – là nguời đại diện cho chính quyền thực dân phong kiến ở làng, thuộc giai cấp thông trị. Thừa lệnh quan bắt người đi xem đá bóng
Lời nói Van xin (gọi ông, lạy…) để khỏi phải đi xem bóng đá Hách dịch, quát nạt (xưng hô mày tao, quát, lệnh….)

2. Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người ở đoạn trích (SGK, trang 21, 22).

Đoạn trích gồm các nhân vật giao tiếp,

a. Chú ý thái độ và lời nói của họ.

–  Viên đội sếp Tây: quát tháo

–   Chú bé con: thầm thì

–   Chị con gái: thốt ra

–  Anh sinh viên: kêu lên

–  Bác cu li xe: thở dài

Một nhà nho: lẩm bẩm.

HS suy nghĩ về vị thế xã hội để giải thích: vì sao viên đội sếp Tây lại có thể quát tháo dân chúng với những lời lẽ thô bỉ như vậy.

b. Xác định mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người:

–  Chú bé: trẻ con nên chú ý đến cái mũ, nói rất ngộ nghĩnh.

–   Chị em gái: phụ nữ nên chú ý cách ăn mặc (cái áo dài), khen với vẻ thích thú.

–   Anh sinh viên: đang học nên chú ý đến việc diễn thuyết, nói như một dự đoán chắc chắn.

–  Bác cu li xe: chú ý đến đôi ủng.

–   Nhà nho: người có trình độ nên chú ý đến tướng mạo, nói bằng một câu thành ngữ thâm nho

Kết hợp với ngôn ngữ là những cử chỉ điệu bộ, cách nói. Điểm chung là châm biếm, mỉa mai.

3. Đọc đoạn trích (mục 3 – SGK, trang 22), phân tích theo những câu hỏi.

a. Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị Dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình. HS chú ý từ ngữ xưng hô:

–  Bà lão: bác trai, anh ấy…

–   Chị Dậu: cám ơn, nhà cháu, cụ…

b. Sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp: Hai nhân vật đổi vai luân phiên.

c. Nét văn hóa đáng trân trọng qua lời nói, cách nói của các nhân vật: tình làng nghĩa xóm, tôi lửa tắt đèn có nhau.

Soạn văn lớp 12: Nhân vật giao tiếp

Câu 1:

a. Hoạt động giao tiếp trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và “thị“. Những nhân vật đó có đặc điểm:

– Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi.

– Về giới tính: Tràng là nam, còn lại là nữ.

– Về tầng lớp xã hội: Họ đều là những người dân lao động nghèo đói.

b. Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

  Người nói Người nghe
Lần 1 Tràng Mấy cô gái
Lần 2 Mấy cô gái Tràng, Thị
Lần 3 Thị Tràng, mấy cô gái
Lần 4 Tràng Thị
Cuối cùng Thị Tràng

– Lượt lời đầu tiên của “thị” là hướng tới Tràng.

c. Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị thế xã hội.

d. Lúc đầu quan hệ còn xa lạ nhưng sau đó họ nhanh chóng trở nên thân tình vì cùng lứa tuổi, cùng vị thế xã hội.

e. Những đặc điểm đó chi phối lời nói của các nhân vật giao tiếp.

– Ban đầu: chưa quen => trêu đùa, thăm dò

– Quen rồi: mạnh dạn hơn.

– Cùng lứa tuổi, cảnh ngộ => sau đó giao tiếp rất suồng sã.

Câu 2:

a. Trong đoạn trích trên có những nhân vật giao tiếp là:

– Bá Kiến

– Mấy bà vợ Bá Kiến

– Bọn người làng

– Chí Phèo

– Lí Cường

Bá Kiến nói với một người nghe là: Chí Phèo, Lí Cường; nói với nhiều người nghe là: mấy bà vợ, dân làng.

b. Vị thế của Bá Kiến:

– Với mấy bà vợ: BK là chồng => quát đuổi về

– Với dân làng: là cụ lớn, thuộc tầng lớp trên => nói có vẻ tôn trọng, giọng cũng dịu lại (thực chất là đuổi khéo)

– Với Lí Cường: là cha => quát đuổi con, thực chất để xoa dịu Chí Phèo.

– Với Chí Phèo: vừa là chủ cũ vừa là người đẩy Chí Phèo vào tù => vừa thăm dò, vừa dỗ dành.

c. Sau khi ở tù về, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với ý định trả thù. Bá Kiến đi vắng nên xảy ra xô xát với Lí Cường, vừa lúc đó thì Bá Kiến về. Nhìn qua một lượt, Bá Kiến hiểu rõ cơ sự liền tung ta chiến lược đẹp yên sự vụ có thể gieo tai họa lên gia đình hắn. Trong những lời thoại trên Bá Kiến sắp xếp lần lượt các lời thoại để tấn công hạ gục Chí Phèo.

– Bá Kiến tìm cách đuổi hết mọi người vừa để tránh to chuyện vừa cô lập Chí Phèo. Chí Phèo cảm thấy đơn độc, nhuệ khí tan dần theo hơi rượu.

– Bá Kiến đã vuốt giận Chí Phèo bằng lời lẽ ngọt ngào và cách xưng hô tâng bốc: Anh Chí ơi! Rồi thân mật: cái anh này, tiếp đến là cách xưng hô như người trong nhà với ngôi thứ nhất số nhiều: ta (để phân biệt với người ngoài). Bên cạnh cách xưng hô là những lời nói nhẹ nhàng, khích lệ, động viên và hành động như người quen thân lâu ngày mới gặp.

– Để Chí Phèo không xem là đối địch, Bá Kiến đã nhận Chí Phèo là người nhà, là họ hàng. Cách nâng vị thế giao tiếp làm cho Chí Phèo hãnh diện vì được ngang hàng với gia đình danh giá nhất làng, chắng mấy chốc hắn quên mất ý định ban đầu.

– Đòn cuối cùng Bá Kiến mắng Lí Cường với giọng đắc thắng là để tôn Chí Phèo và Bá Kiến đã được mục đích dập tắt ngọn lửa căm thù trong lòng Chí Phèo, bóp chết ý định trả thù của Chí trong trứng nước.

d. Bá Kiến đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp:

– Những người nghe trong cuộc hội thoại đều răm rắp nghe lời Bá Kiến.

– Chí Phèo hung hãn khi đến nhưng cuối cùng cũng bị khuất phục, thấy lòng nguôi nguôi …

LUYỆN TẬP

Câu 1: Hai nhân vật giaO tiếp là anh Mịch, một người nông dân là lí trưởng, kẻ chức sắc có quyền thế trong làng.

Anh Mịch

Ông Lí

Vị thế xã hội Kẻ dưới – nạn nhân bị bắt đi xem đá bóng Bề trên – thừa lệnh quan, bắt người đi xem đá bóng.
Lời nói Van xin, nhún nhường (gọi ông, xưng con, lạy,…) Hách dịch, quát nạt (xưng mày – tao, quát, ra lệnh,..)

Câu 2:

– Viên đội sếp Tây: vị thế xã hội là người có quyền thế, nghề nghiệp cảnh sát, giới tính là nam, văn hóa kém cỏi vì lời thoại vừa hống hách vừa có thái độ phân biệt chủng tộc.

– Nhân vật đám đông: vị thế xã hội thấp, văn hóa cũng thấp nên lời thoại mang tình hiếu kì.

– Chú bé con còn ngây thơ nên chỉ chú ý chi tiết lạ mắt của viên Toàn quền và chỉ nhìn đối tượng ở bên ngoài.

– Chị con gái, tuổi hồn nhiên, thích làm đẹp nên chỉ quan tâm đến trang phục.

– Anh sinh viên là người có trình độ văn hóa, quan tâm đến hoạt động xã hội và chính trị nên nghĩ đến việc làm của viên Toàn quyền.

– Bác cu-li xe vất vả với nghề nghiệp của mình, văn hóa còn thấp nên nhìn đối tượng có liên quan đến chuyện miếng cơm manh áo của mình.

– Nhà nho học vấn uyên thâm nên có cái nhìn sâu sắc: nhìn bên ngoài có thể đánh giá bản chất bên trong của đối tượng.

Nhận xét chung: Lời thoại của nhân vật giao tiếp thường phản ánh trình độ học vấn, văn hóa, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của nhân vật đó.

Câu 3:

a. Quan hệ giữa bà lão hàng xóm và chị dậu là quan hệ hàng xóm láng giềng thân tình.

Điều đó chi phối lời nói và cách nói của 2 người – thân mật:

– Bà lão: bác trai, anh ấy, …

– Chị Dậu: cảm ơn, nhà cháu, cụ, …

b. Sự tương tác về hành động ngôn ngữ giữa các lượt lời:

– Hỏi thăm – cảm ơn

– Đề nghị – lĩnh hội

– Đề nghị – (đồng ý)

c. Đoạn hội thoại cho thấy cách ứng xử của hai nhân vật thân mật nhưng không suồng sã vì tình chất quan trọng của nội dung đề tài. Văn hóa ứng xử ấy rất đẹp, đáng trân trọng. Họ là những người nông dân giàu tình cảm và trách nhiệm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *