Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học – Ngữ văn 12

Soạn bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học – Ngắn gọn nhất

Đề 1:

a. Mở bài

– Nêu ý kiến của Thạch Lam về văn chương.

– Trình bày cảm nhận chung của mình về ý kiến ấy.

b. Thân bài

– Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực nghĩa là: Văn chương là công cụ nghề nghiệp hoàn hảo của nhà văn, là vũ khí có khả năng giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh của mình một cách có hiệu quả. Nó không bị sử dụng vào mục đích xấu, hơn nữa nó luôn tác động bằng con đường tình cảm.

– Tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn. Nghĩa là:

+ Văn chương vạch trần, phê phán những tệ lậu, những cái xấu xa của xã hội và đòi hỏi diệt trừ thay thế nó.

+ Đồng thời bồi đắp tinh thần, xây dựng đời sống tâm hồn, thanh lọc tình cảm con người.

Bình luận:

– Thạch Lam tự hào về vũ khí của mình.

+ Nhận xét đúng đắn, khái quát, sát thực.

+ Ý thức được sức mạnh và sự cao cả của văn chương.

+ Thấy được cách tác động đặc thù của văn chương vào cuộc sống.

– Nhận thức đúng về hiện trạng đời sống lúc bấy giờ.

+ Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ của văn chương.

+ Hiểu rõ tương quan giữa hai nhiệm vụ (phản ánh, đã phá và xây dựng tâm hồn).

+ Đầy niềm tin ở khả năng của văn học, khả năng tự cải tạo của tâm hồn con người.

c. Kết bài

– Khẳng định quan niệm đúng đắn về vai trò, tác dụng của văn chương trong đời sống xã hội.

– Ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa lâu dài của ý kiến ấy.

Đề 2

a. Mở bài

– Giới thiệu ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh (trích nguyên văn, nêu xuất xứ).

– Trình bày nhận định chung của mình về ý kiến đó.

b. Thân bài

– Có nhiều nguyên nhân thành công của thơ Tố Hữu (năng khiếu bẩm sinh, truyền thống gia đình, quê hương, công phu tu dưỡng nghệ thuật…). Nhưng “thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính” đưa đến sự thành công của thơ ông.

– Chứng minh: có toàn tâm, toàn ý với cách mạng mới luôn luôn suy nghĩ, trăn trở, lo toan với đau khổ và sướng vui trên những chẳng đường lịch sử của đất nước. Tâm tư, tình cảm chân thành, sâu sắc ấy của nhà cách mạng Tố Hữu chính là chất liệu của thơ trữ tình – chính trị của ông, giữa con người nhà thơ có sự thống nhất hài hòa.

Ví dụ: Phân tích những câu thơ, đoạn thơ để chứng minh cho sự thành công của thơ Tố Hữu. Có thể lấy dẫn chứng trong Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, …

– Do nhu cầu tinh thần của con người hết sức phong phú, đa dạng nên cùng với thơ trữ tình chính trị còn có những loại thơ khác (thơ tình yêu, thơ thế sự, thơ điền viên…) với những nguyên nhân thành công khác cũng rất cần cho đời sống tinh thần của con người.

c. Kết bài

Ý kiến của Hoài Thanh phù hợp với thực tế sáng tác của Tố Hữu, phù hợp với lí luận sáng tác thơ ca. Do đó, có thể gợi ý cho những người nghiên cứu và sáng tác thơ.

Soạn bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học – Ngữ Văn 12

SOẠN BÀI

I. THẾ NÀO LÀ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Ý KIẾN ĐỐI VỚI VĂN HỌC?

– Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học là một hình thức của bài nghị luận văn học mà nội dung là bình luận, phân tích một ý kiến đối với văn học.

– Người viết phải biêt cách giải thích đúng đắn nội dung một ý kiến đối với văn học, biết nhận định, đánh giá ý kiến ấy.

II. CÁCH VIẾT BÀI VẨN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Ý KIẾN ĐỐI VỚI VĂN HỌC

1. Tìm hiểu để và lập dàn ý

Đề 1. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” (Dẫn theo Trần Văn Giàu tuyển tập, NXB (Giáo dục, 2001).

Bước 1: Tìm hiểu đề

Để thực hiện các bước tìm hiểu đề và lập dàn ý, HS thực hiện các yêu cầu của SGK. Cụ thể:

Anh (chị) hãy làm rõ nghĩa các từ, cụm từ: phong phú, đa dạng, chủ lưu, quán thông kim cổ.

– Giải nghĩa các từ:

+ Phong phú, đa dạng: có nhiều tác phẩm với nhiều hình thức thể loại khác nhau.

+ Chủ lưu: dòng chính, bộ phận chính.

+ Quán thông kim cổ: thông suốt từ xưa đến nay.

b. Đề nêu nội dung gì cần bình luận? cần tham khảo những bài học nào trong chương trình Ngữ văn THPT?

– Yêu cầu của đề: bình luận ý kiến của giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng xưa đến nay cái phong phú đa dạng của văn học Việt Nam, dòng văn yêu nước là một chủ lưu.

Cần tham khảo các bài: Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến cuối thế kỉ XX, Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Tuyên ngôn độc lập…

c. Chứng minh rằng văn học Việt Nam rất phong phú đa dạng.

– Văn học Việt Nam rất phong phú đa dạng. Có nhiều tác phẩm với nhiều hình thức thể loại, đề tài phong phú khác nhau (HS lấy dẫn chứng)

d. Chủ lưu của văn học Việt Nam là văn học yêu nước, anh chị thấy xét trên có đúng không? Chứng minh?

– Chủ lưu của văn học Việt Nam là văn học yêu nước.

– Chứng minh.

– Quá trình dựng nước và giữ nước tạo nguồn cảm hứng cho sáng tác các nhà văn, nhà thơ.

– Giai đoạn lịch sử nào của dân tộc cũng có những tác phẩm lớn, giá về đề tài yêu nước (HS lấy dẫn chứng).

e. Văn học yêu nước Việt Nam “quán thông kim cổ”. Hãy chứng minh?

– Văn học Việt Nam với nội dung yêu nước có thể nói là dã quán thố kim cổ. Chứng minh:

+ Văn học trung đại: văn học yêu nước thể hiện ở chiến đấu chống ngoại xâm (Tống, Nguyên, Mông, Minh, Thanh). Nêu các tác phẩm lớn ở các giai đoan này: Nam quốc sơn hà (chống Tống); Hịch tướng sĩ (chống Nguyên Mông); Bình Ngô đại cáo (Chống Minh); Hoàng Lễ nhất thống chí (Chống Thanh).

+ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ chủ lưu ấy càng phát huy mạnh mẽ vị trí, vai trò của nó. HS có thể dẫn ra hàng loạt tác giả tác phẩm tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến này.

g. Nhận định của anh (chị) về ý kiến của giáo sư Đặng Thai Mai (SGK)?

– Nhận định của Đặng Thai Mai giúp chúng ta nhớ đến hoàn cảnh nước và đặc biệt hiểu hơn đặc điểm văn học của dân tộc mình.

Bước 2: Lập dàn ý

a. Mở bài: —

– Giới thiệu ý kiến của giáo sư Đặng Thai Mai.

– Trình bày nhận định chung của mình về ý kiến đó.

b. Thân bài:

– Cuộc sống Việt Nam phong phú, đa dạng, thơ văn Việt Nam đã phản ánh cuộc sống phong phú đa dạng đó.

– Để tồn tại bên cạnh các thế lực quân sự hùng mạnh, nhiều tham vọng như: Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… dân tộc Việt Nam phải luôn chú tâm phòng bị và chiến đấu kiên cường để giữ nền độc lập của mình. Sau cùng, dân tộc Việt Nam lại phải liên tục chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ… Do điều kiện đặc biệt ấy, chủ lưu của văn học Việt Nam là văn học yêu nước. Đặc điểm đó xuyên suốt từ xưa đến nay (“Quán thông kim cổ”).

– Cần chọn những dẫn chứng tiêu biểu trong văn học để chứng minh điều đó + Nam quốc sơn hà, Bình ngô đại cáo…

+ Tuyên ngôn độc lập, thơ của Tố Hữu, Chính Hữu, Quang Dũng, Chế Lan Viên…

Kết bài:

– Trên thế giới, mỗi dân tộc có số phận riêng, hoàn cảnh riêng. Là người Việt Nam ta cần nhớ đến hoàn cảnh của đất nước và đặc điểm văn học của dân tộc mình, đó cũng là nhớ đến công lao, tâm huyết của cha ông.

– Ý kiến của giáo sư Đặng Thai Mai giúp chúng ta khắc sâu những điều đó.

Điều 2: Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa

nói: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua các kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng, ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng đêm dài” (dẫn theo Lâm Ngữ Đường). Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên.

Bước 1: Tìm hiểu đề

HS tham khảo đề 1 ở trên và hướng dẫn của SGK để thực hiện các bước tìm hiểu đề.

Bước 2: Lập dàn ý.

HS tham khảo dàn ý sau đây:

a. Mở bài

Giới thiệu vấn đề bàn về đọc sách và vai trò của sách trong đời sống.

– Sách mở rộng cho chúng ta những chân trời mới, giúp chúng ta khám phá đến những miền đất mới, cung cấp cho chúng ta một kho tàng kiến thức phong phú về đời sống

– Đọc sách, tiếp nhận những giá trị của sách, đặc biệt là những tác phẩm văn học luôn gắn liền với những điều kiện và năng lực chủ quan của người đọc. Nhận xét về điều này, người xưa cho rằng: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua các kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” (dẫn theo Lâm Ngữ Đường .

b. Thân bài:

b1. Giải thích câu nói trên:

– Người xưa đã dùng hình ảnh so sánh việc đọc sách với việc thường trăng. Mỗi lứa tuổi đọc sách sẽ lĩnh hội được những tri thức nhất định, đồng thời ở mỗi lứa tuổi có một cách đọc sách khác nhau để thu nhập những tri thức sách mang lại khác nhau.

b2. HS bàn luận thêm và chứng minh tính đúng đắn của ý kiến trên: Đọc sách tuỳ thuộc vào tầm lĩnh hội của mỗi người đọc. Tầm lĩnh hội đó được hình thành từ những yếu tố: Vốn sống, kinh nghiệm từ cuộc sống, những hiểu biết được tích luỹ từ tuổi tác sẽ giúp ích cho con người có khả năng đó nhận những tri thức ở trong sách. Thêm vào đó, vốn văn hoá rộng lớn cũng là yếu tố giúp người đọc có được sự am hiểu nhất định để có thể dàng đón nhận những tri thức văn hoá từ sách.

– Như vậy, muốn có kết quả tốt trong việc đọc sách, cần trang bị cho mình những hiểu biết về mọi mặt. Kinh nghiệm, vốn sống, những hi biết phong phú về nhiều mặt sẽ giúp con người tiêp nhận tốt hơn, cảm nhận được vẻ đẹp cuộc sống mà sách mang lại.

c. Kết bài

Việc đọc sách cũng giống như việc thưởng trăng, cần có thái độ ung dung từ tốn, cần suy ngẫm, chắt lọc, không vội vàng, cẩu thả.

LUYỆN TẬP

1. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) đối với ý kiến của nhà của Thạch Lam: “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Dàn bài gợi ý:

a. Mở bài:

– Nêu ý kiến của Thạch Lam về văn chương.

– Khái quát ý nghĩa: nói về chức năng, sứ mệnh của văn học.

b. Thân bài:

b1. Giải thích:

– Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực nghĩa là: Văn chương là công cụ nghề nghiệp hoàn hảo của nhà văn, là vũ khí có kĩ năng giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh của mình một cách có hiệu qủa. Nó không bị sử dụng vào mục đích xấu, hơn nữa nó luôn tác động bằng con đường tình cảm.

– Tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác “làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. Nghĩa là:

+ Văn chương vạch trần, phê phán những tệ nạn, những cái xấu xa của xã hội và đòi hỏi diệt trừ, thay thế nó.

+ Đồng thời bồi đắp tinh thần, xây dựng đời sống tâm hồn, thanh li tình cảm con người.

b2. Bình luận:

– Thạch Lam rất tự hào về vũ khí của mình

+ Nhận xét đúng đắn, khái quát, sát thực.

+ Ý thức được sức mạnh và sự cao cả của văn chương.

+ Thấy được cách tác động đặc thù của văn chương vào cuộc sống.

– Nhận thức đúng về hiện trạng đời sống lúc bấy giờ

+ Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ của văn chương.

+ Hiểu rõ tương quan giữa hai nhiệm vụ (phản ánh, đả phá và xây dựng tâm hồn).

+ Đầy niềm tin ở khả năng của văn học, khả năng tự cải tạo của tâm hồn con người.

c. Kết luận

– Khẳng định quan niệm đúng đắn về vai trò, tác dụng của văn chương trong đời sống xã hội.

– Ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa lâu dài của ý kiến ấy.

Soạn bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

1. Anh (chị) hiểu như thế nào về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” ?

Trả lời:

Theo yêu cầu của đề, người làm bài phải trình bày được ý kiến của mình về hai phương diện:

– Nội dung ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Suy nghĩ riêng của anh (chị) về vấn đề đó.

a) Về ý kiến của Bác, có hai vấn đề cần làm rõ :

– Tại sao Bác nói “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận” ? Có thể hiểu như sau:

+ Trong lịch sử xưa và nay, văn học bao giờ cũng bị (được) một giai cấp này hay một giai cấp khác, một tập đoàn này hay một tập đoàn khác sử dụng làm vũ khí chính trị, tư tưởng cho mình (dẫn chứng).

+ Trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, luôn luôn diễn ra những cuộc đấu tranh dưới hình thức này hay hình thức khác về quan điểm chính trị, tư tưởng, học thuật khác nhau. (Nêu dẫn chứng về các cuộc bút chiến tiêu biểu trên văn đàn Việt Nam như các cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị với Tôn Thọ Tường, giữa nhà nho yêu nước Ngô Đức Kế với Phạm Quỳnh, hoặc các cuộc tranh luận triết học duy tâm – duy vật, thơ cũ – thơ mới, nghệ thuật vị nghệ thuật – nghệ thuật vị nhân sinh,…).

– Tại sao Bác yêu cầu văn nghệ sĩ là chiến sĩ ? Có thể nêu mấy ý chính như sau:

+ Người nghệ sĩ dù muốn hay không, dù có ý thức hay không, bao giờ cũng đứng ở một vị trí xã hội nhất định, sáng tác theo một khuynh hướng tư tưởng, chính trị, xã hội nhất định. Dù có tuyên bố trung lập trong cuộc đấu tranh xã hội thì thực chất mỗi người cũng đã có một thái độ nhất định.

+ Trong thực tế hoạt động văn học, các nhà văn đều phụng sự cho một xu hướng chính trị, tư tưởng nhất định, không ai có thể đứng ngoài cuộc đấu tranh xã hội được. (Lấy dẫn chứng từ thực tế văn học Việt Nam qua các khuynh hướng văn học lãng mạn, hiện thực hay cách mạng,…)

b) Phần phát biểu ý kiến thực chất là kết quả của thao tác lập luận, bình luận. Cần chú ý:

– Đây là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật. Trước Cách mạng, Bác đã từng nói: “Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi’).

– Hồ Chí Minh vừa là lãnh tụ cách mạng vừa là một tài năng nghệ thuật góp phần quan trọng cho nền lí luận văn nghệ cách mạng.

– Tư tưởng văn nghệ của Người đã định hướng cho văn nghệ sĩ con đường đi với nhân dân và nâng cao hiệu quả sáng tác nghệ thuật.

– Tư tưởng văn nghệ trên của Người vẫn mãi mãi là những bài học về lẽ sống và ý thức cầm bút của người nghệ sĩ.

2. Hãy bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến của Nguyễn Văn Siêu : “Loại văn chương không đáng thờ là loại văn chương chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”.

Trả lời:

Bài làm nên có hai phần : phần đầu tìm hiểu, cắt nghĩa ý kiến của Nguyễn Văn Siêu; phần hai bình luận về ý kiến đó.

a) Phần cắt nghĩa ý kiến của Nguyễn Văn Siêu, nên chú ý mấy ý chính sau :

– Ông xác định tiêu chí đánh giá văn chương chính là ở mục đích của nó : Văn chương vì con người hay văn chương vì văn chương.

– Ông cho rằng văn chương chuyên chú ở con người là văn chương đáng thờ vì đó là loại văn chương hữu ích cho đời, cho con người. Văn chương chuyên chú ở con người sẽ là văn chương màu mỡ, phong phú về đề tài, về nội dung, về sức sống vì cuộc đời con người bao giờ cũng là nguồn sống bất tận cho văn chương. Ngược lại, văn chương chỉ thu hẹp trong kĩ thuật chữ nghĩa đơn thuần, xa lạ với con người thì nhất định sẽ khô héo, còm cõi và tàn lụi.

– Nên hiểu cho đúng ý kiến của Nguyễn Văn Siêu. Ông nhấn mạnh mục đích của văn chương là chính nhưng không coi nhẹ giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Ông có ý phê phán loại văn chương coi nghệ thuật là tối thượng mà coi nhẹ cụộc sống con người trong văn chương.

b) Phần bình luận là phần dành cho suy nghĩ riêng của mỗi người. Tuy nhiên, có thể bình luận theo các hướng sau :

– Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đề cập đến một số vấn đề cơ bản của lí luận văn nghệ. Đó là vấn đề mục đích, chức năng của văn nghệ, vấn đề quan hệ giữa nội dung và hình thức, quan hệ giữa con người nghệ sĩ và con người công dân trong sáng tác, tiêu chí đánh giá sáng tạo văn chương.

– Đây là vấn đề vẫn còn ý nghĩa thời sự trong đời sống văn nghệ, trong việc chống lại khuynh hướng hình thức chủ nghĩa, nhân danh đổi mới rồi đi vào tỉa tót văn chương mà coi nhẹ nội dung cuộc sống của văn chương. Hoặc không thể vì lí do chống chủ nghĩa đề tài để lảng tránh những vấn đề nóng bỏng cốt tuỷ của đời sống, nhất là đời sống của đông đảo quần chúng.

3. Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến của Hoài Thanh : “Tập Nhật kí trong tù là một tiếng nói chứa chan tính nhân đạo”.

Trả lời:

Khi làm bài này, nên lí giải tính nhân đạo là gì, được biểu hiện như thế nào trong Nhật kí trong tù, nhưng trọng tâm là bình luận về tính nhân đạo. Không nên sa vào giải thích, chứng minh mà phải nêu lên được những vấn đề về tính nhân đạo trong tập Nhật kí trong tù. Ví dụ bình luận về trái tim nhân đạo của Hồ Chí Minh, một trái tim luôn nhạy cảm với mọi đau thương của con người, của mọi kiếp người – đó là nguồn cảm hứng lớn lao trong sáng tác của Người. Hoặc có thể bình luận về chủ nghĩa nhân đạo trong thơ văn của những con người cộng sản. Cũng có thể bàn về sự kế thừa và điểm khác biệt giữa chủ nghĩa nhân đạo trong vãn thơ của Bác với chủ nghĩa nhân đạo trong thơ văn cổ điển hay thơ văn lãng mạn, hiện thực,… Ngoài ra, cũng nên nói đến sự phát hiện đúng đắn và tinh tế của nhà phê bình Hoài Thanh khi đọc Nhật kí trong tù của Bác hoặc bàn về ý nghĩa kế thừa và phát triển của tập Nhật kí trong tù trong mạch văn chương nhân đạo của dân tộc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *