Bài 3. Các nước Đông Bắc Á – Lịch sử 12

Nét chung về khu vực Đông Bắc Á

Đông Bắc Á là khu vực rộng lớn (với tổng diện tích 10,2 triệu km2), đông dân nhất thế giới (khoảng 1,47 tỉ người- năm 2000) và có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Đong Bắc Á ( trừ Nhật Bản) đều bị chủ nghĩa thực dân nô dịch. Từ sau năm 1945, tình hình khu vực có nhiều biến chuyển.

Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã dân tới sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa( 10-1949). Chính quyền Tưởng Giới Thạch phải rút chạy ra Đài Loan và tồn tại ở đó nhờ sự giúp đỡ của Mĩ. Hồng Công và Ma Cao vẫn là những vùng đất thuộc địa của Anh và Bồ Đào Nha, cho đến cuối những năm 90 của thế kỉ XX mới trở về chủ quyền của Trung Quốc.

Sau khi thoát khỏi ách thống trị của quân phiệt Nhật Bản, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh, bán đảo Triều Tiên , Nhà nước Đại Hàn Dân quốc( Hàn Quốc) được thành lập. Tháng 9 năm đó, ở phía bắc, Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ra đời. Tháng 6- 1950, cuộc chiến tranh giữa hai miền bùng nổ, kéo dài đến tháng 7-1953. Hai bên kí Hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm, vĩ tuyến 38 vẫn được coi là ranh giới giữa hai nhà nước trên bán đảo.

Từ năm 2000, hai nhà lãnh đạo cao nhất của hai miền đã kí hiệp địn hòa hợp giữa hai nhà nước, mở ra một bước mới trong tiến trình hòa hợp, thống nhất bán đảo Triều Tiên.

Hình 7.Lễ ký hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm

Sau khi thành lập, các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á bắt tay vào xây dựng và phát triển kinh tế. Trong nửa sau thế kỉ XX, khu vực Đông Bắc Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trong bốn “con rồng” kinh tế châu Á thì ở Đông Bắc Á có ba ( Hàn Quốc, Hồng Công và Đài Loan), còn Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong những năm 80-90 của thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI, nền kinh tế Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh và cao nhất thế giới.

Trung Quốc – Lịch sử 12

Trung Quốc là nước rộng thứ ba thế giới( sau Nga và Canada) với diện tích gần 9,6 triệu triệu km2 và dân số đông nhất thế giới với 1,26 tỉ người (2000).

1.Sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thành tựu 10 năm đầu xây dựng chế độ mới (1949-1959)

Sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc , từ năm 1946 đến năm 1949 ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản.

Ngày 20-7-1946, Tưởng Giới Thạch phát động cuộc chiến tranh chống Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau giai đoạn :phòng ngự tích cực ( từ tháng 6 -1946 đến tháng 6 -1947). Quân giải phóng Trung Quốc đã chuyển sang phản công, lần lượt giải phóng các vùng do Quốc dân đảng kiểm soát.

Cuối năm 1949, cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng. Lực lượng Quốc dân đảng thất bại, phải rút chạy ra Đài Loan. Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Hình 8. Chủ tịch Mao TRạch Đông tuyên bố thành lập nuwocs Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Với thắng lợi này, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân Trung Quốc đã hoàn thành, chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đưa nước Trung Hoa bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc thế giới,

Bước vào thời kì xây dựng, nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân Trung Quốc là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục.

Trên cơ sở thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, phát triển văn hóa, giáo dục trong những năm 1950-1952, Trung Quốc bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên( 1953- 1957). Nhờ nỗ lực lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô(1), kế hoạch 5 năm đã hoàn thành thắng lợi. Bộ mặt đất nước có những thay đổi rõ rệt.

Trong những năm 1953-1957, đã có 246 công trình được xây dựng và đưa vào sản xuất. Đến năm 1957, sản lượng công nghiệp tăng 140 %, sản lượng nông nghiệp tăng 25%( so với năm 1952). Trung Quốc đã tự sản xuất được 60% số máy móc cần thiết. Văn hóa, giáo dục có những bước tiến lớn.Đời sống nhân dân được cải thiện.

Về đối ngoại, Trung Quốc thi hành chính sách tích cực nhằm củng cố hòa bình và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới.

Ngày 18-1-1950, Trung Quốc thiết lập ngoại giao với Việt Nam.

2.Trung Quốc những năm không ổn định( 1959-1978)

Về đối nội, từ năm 1959 đến năm 1978, Trung Quốc lâm vào tình trạng không ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Với việc đề ra và thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” năm 1958 (“Đường lối chung”, “Đại nhảy vọt”, “Công xã nhân dân”), các nhà lãnh đạo Trung Quốc hi vọng nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Cuộc “ Đại nhảy vọt “ được thực hiện bằng viết phát động toàn dân làm gang thép với mục tiêu đưa nhanh sản lượng thép lên gấp 10 lần chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ 2( 1958=1962). Sau 4 tháng, đã có 11 triệu tấn thép ra lò, nhưng hầu như chỉ là phế liệu.

Các hợp tác xã được sát nhập lại thành các “Công xã Nhân dân” tổ chức theo lối quân sự hóa, mọi sinh hoạt kinh tế-xã hội đều được bao cấp, làm cho sản lượng nông nghiệp giảm sút, nhiều nơi bị mất mùa.

Hậu quả từ năm 1959, nạn đói đã diễn ra trầm trọng trong cả nước, đời sống nhân dân khó khăn, sản xuát ngưng trệ, đất nước không ổn định.

Những khó khăn về kinh tế đã dẫn tới biến động về chính trị. Năm 1959, Lưu Thiếu Kỳ được cử làm Chủ tịch nước, Mao Trạch Đông chỉ giữ cương vị Chủ Tịch Đảng Cộng sản. Trong nội bộ ban lãnh đạo Trung Quốc xảy ra sự bất đồng gay gắt về đường lối, dẫn tới cuộc tranh giành quyền lực , đỉnh cao là cuộc ” Đại chiến cách mạng văn hóa vô sản” (1966-1976)

Bằng việc sử dụng lực lượng Hồng vệ binh đạp phá các cơ quan Đảng, chình quyền, cơ sở văn hóa ; lôi ra đầu tố, truy bức, nhục hình nhiều nhà cách mạng lão thành và nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ, cuộc “ Đại cách mạng văn hóa vô sản” đã để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về mọi mặt đối với đời sống Trung Quốc.

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời( 9-1976), trên toàn đất nước bắt đầu chiến dịch chống lại “ Bè lũ bốn tên” (1).Trung Quốc dần dần đi vào ổn định .

Về đối ngoại, Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ xâm lược của nhân dân Việt Nam cũng như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc các nước Á, Phi và Mĩ Latinh. Cũng trong thời kỳ này, đã xảy ra cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ (1962), giữa Trung Quốc và Liên Xô(1969). Tháng 2-1972, Tổng thống Mĩ R.Ních xơn sang thăm Trung Quốc, mở đầu mối quan hệ mới theo hướng dịu hòa giữa hai nước.

3. Công cuộc cải cách-mở cửa ( từ năm 1978)

Tháng 12-1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối mới do Đặng Tiểu Bình khởi xướng, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế-xã hội của đất nước. Đường lối này được nâng lên thành đường lối chung của Đại hội XII(9-1982), đặc biệt là Đại hội XIII (10= 1987) của Đảng : lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn, nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh.

Từ khi thực hiện đường lối cải cách, đất nước Trung Quốc đã có những biến chuyển căn bản. Sau 20 năm(1979-1998), nền kinh tế Trung Quốc tiến bộ nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

GDP tăng trung bình hằng năm trên 8%. Năm 2000, GDP của Trung Quốc vượt qua ngưỡng 1000 tỉ USD, đạt 1 080 tỉ USD ( tương đương gần 9 000 tỉ nhân dân tệ). Cơ cấu tổng thu nhập trong nước theo khu vực kinh tế cí sự thay đổi lớn, từ chỗ lấy nông nghiệp làm chủ yếu, đến năm 2000 thu nhập nông nghiệp chỉ chiếm 16%, trong khi thu nhập công nghiệp và xây dựng tăng lên tới 51%, dịch vụ 33%. Từ năm 1978 đến năm 1997, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng từ 134 lên 2 090 nhân dân tệ ; ở thành thị, tăng lên từ 343 lên 5160 nhân dân tệ.

Khoa học – kĩ thuật , văn hóa, giáo dục Trung Quốc đạt nhiều thành tựu nổi bật.

Hình 9. Cầu Nam Phố ở Thượng Hải

Năm 1964, Trung Quốc thử nghiệm thành công bom nguyên tử. Chương trình thám hiểm không gian được thực hiện từ năm 1992. Từ tháng 11-1999 đến tháng 3-2003, Trung Quốc đã phóng 4 con tàu “Thần Châu” với chế độ tự động và ngày 15-10-2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ đã bay vào không gian vũ trụ. Sự kiện này đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới( sau Nga, Mĩ) có tàu cùng với con người bay vào vũ trụ.

Về đối ngoại, chính sách của Trung Quốc có nhiều thay đổi, vai trò và địa vị quốc tế của nước này ngày càng được nâng cao.

Từ những năm 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã bình thường hóa về quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Mông Cổ, Inđônễia v.v ; mở rộng sự hợp tác với nhiều nước trên thế giới.

Sau sự kiện quân đội Trung Quốc mở cuộc tến công biên giới phía bắc Việt Nam (2-1979), quan hệ hai nước xấu đi. Tháng 11-1991, hai nước đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Trung Quốc đã thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công (7-1997) và Ma Cao(12-1999). Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng đến nay vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nước này.

Nội dung cơ bản của đường lối cải cách của Trung Quốc và những thành tựu chính mà Trung Quốc đạt được trong những năm 1978-2000

Nội dung cơ bản của đường lối cải cách Trung Quốc : lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ nghĩa Mác-Leenin, tư tưởng Mao Trạch Đông) ; tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang tính đặc sắc Trung Quốc với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh.

-Thành tựu : Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là trên 8%. Năm 2000, GDP của Trung Quốc đat hơn 1000 tỉ USD. Cơ cấu kinh tế đã có những chuyển dịch căn bản, thu nhập công nghiệp và xây dựng chiếm 51%, dịch vụ 33%, nông nghiệp chỉ còn 16%. Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng cao.

Khoa học- kỹ thuật, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế không ngừng lớn mạnh (năm 1964 chế tạo thành công bom nguyên tử, năm 2003 đưa con người bay vào không gian vũ trụ)

Về đối ngoại, năm 1979, Trung Quốc thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Mĩ; từ những năm 80 cải thiện quan hệ với Liên Xô, sau này là Liên bang Nga và Cộng đồng các quốc gia độc lập, bình thường hóa mối quan hệ với Ấn Độ, Mông Cổ, Inđônêxia và các nước khác.

Tháng 11-1991, Trung Quốc và Việt Nam đã khôi phục quan hệ ngoại giao.

Tháng 7-1997, Hồng Công và tháng 12-1999, Ma Cao đã trở về thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan từng bước cải thiện.

Lập niên biểu các sự kiện thể hiện sự biến đổi của khu vực Đông Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Các sự kiện thể hiện biến đổi của khu vực Đông Bắc Á sau chiến tranh thế giới thứ hai

Nêu những sự kiện chính những năm 1946-1949 dẫn tới việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và ý nghĩa của sự thành lập này

Việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

Sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc, từ năm 1946 đến năm 1949 ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản.

Ngày 20-7-1946, cuộc nội chiến bùng nổ. Do tương quan lực lượng bất lợi, trong khoảng 1 năm đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ trương phòng ngự tích cực.

Từ tháng 6-1947, Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyến sang phản công, giải phóng nhiều vùn lãnh thổ lớn.

Ngày 21-4-1949, Quân giải phóng vượt song Trường Giang tiến đánh Nam Kinh –thủ đô của chính quyền Quốc dân đảng. Cuối năm 1949, cuộc nội chiến kết thúc toàn bộ lục địa Trung Hoa được giải phóng. Tập đoàn Tưởng Giới Thạch bỏ chạy ra đảo Đài Loan.

-Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập do Mao Trạch Đông làm chủ tịch, thủ đô là Bắc Kinh..

*Ý nghĩa:

-Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã chấm dứt hơn 100 năm bị đế quốc nô dịch, xâu xé,, xóa bỏ tàn dư phong kiến, mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Là một quốc gia rộng lớn, đông dân (lãnh thổ bằng ¼ châu Á, dân số bằng ¼ thế giới), thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã nối liền chủ nghĩa xã hội từ châu Âu sang châu Á, làm thay đổi sâu sắc tương quan lực lượng có lợi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Khu vực Đông Bắc Á sau chiến tranh thế giới thứ hai có sự biến đổi như thế nào?

Sự biến đổi của khu vực Đông Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai:

-Đôi nét về khu vực Đông Bắc Á.

-Về thắng lợi của cách mạng Trung Quốc.

-Về Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao.

– Bán đảo Triều Tiên : những sự kiện năm 1948, 1950,1953…

-Sự phát triển kinh tế của các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á

Lập niên biểu các sự kiện chính trong lịch sử Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2000

Các sự kiện chính của lịch sử Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 2000

Bài tập 1 trang 11 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12

Hãy khoanh tròn chữ cái trước ý đúng.

1. Đến nửa sau thế kỉ XX, “con rồng” kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á là
A. Nhật Bản. B. Hàn Quốc. C. Trung Quốc. D. Xingapo.

2. Sau khi cách mạng thắng lợi, nước Trung Quốc có tên là
A. Cộng hoà Trung Hoa C. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
B. Cộng hoà Dân chủ Trung Hoa. D. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Trung Hoa.

3. Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày
A. 1 – 10- 1949. C. 30- 1 – 1950.
B. 18- 1 – 1950. D. 31 – 1 – 1950.

4. Người đã khởi xướng công cuộc cải cách – mở cửa ở Trung Quốc là
A. Mao Trạch Đông. C. Giang Trạch Dân.
B. Đặng Tiểu Binh. D. Hổ cầm Đào.

5. Từ khi thực hiện cải cách – mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
A. đứng đầu thế giới. C. đứng thứ ba thế giới.
B. đứng thứ hai thế giới. D. đứng thứ tư thế giới.

6. Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ vào không gian năm
A. 1999. B. 2002. C. 2003. D. 2004.

Trả lời:
1. Chọn đáp án B
2. Chọn đáp án C
3. Chọn đáp án B
4. Chọn đáp án B
5. Chọn đáp án A
6. Chọn đáp án C

Bài tập 2 trang 11, 12 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12

Hãy điền chữ Đ vào ô □ trước câu đúng hoặc chữ S vào ô □ trước câu sai.

1. Sau cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật kết thúc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định tấn công Quốc dân đảng để giành toàn bộ chính quyến.

2. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Trung Quốc thắng lợi đã chấm dứt hơn 100 năm nô dịch của đế quốc, xoá bỏ tàn dư phong kiến.

3.Từ năm 1959 đến năm 1978 là giai đoạn Trung Quốc diễn ra những cuộc thanh trừng, tranh giành quyền lực trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản, làm cho tình hình đất nước không ổn định, đời sống nhân dân khó khăn.

4.Trung Quốc là nước đã tiến hành công cuộc cải cách sớm nhất trong phe XHCN.

5. Đến Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII (9 – 1982) và Đại hội lần thứ XIII (10 – 1987), những chủ trương đổi mới đã được nâng lên thành đường lối chung.

6. Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện phương châm một đất nước hai chế độ.
Trong các năm 1997 và 1999, Trung Quốc đã thu hồi được hai vùng lãnh thổ là Hổng Công và Ma Cao.

Trả lời:

Đ: Sau cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật kết thúc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định tấn công Quốc dân đảng để giành toàn bộ chính quyến.
Đ: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Trung Quốc thắng lợi đã chấm dứt hơn 100 năm nô dịch của đế quốc, xoá bỏ tàn dư phong kiến.
S: Từ năm 1959 đến năm 1978 là giai đoạn Trung Quốc diễn ra những cuộc thanh trừng, tranh giành quyền lực trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản, làm cho tình hình đất nước không ổn định, đời sống nhân dân khó khăn.
Đ: Trung Quốc là nước đã tiến hành công cuộc cải cách sớm nhất trong phe XHCN.
S: Đến Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII (9 – 1982) và Đại hội lần thứ XIII (10 – 1987), những chủ trương đổi mới đã được nâng lên thành đường lối chung.
Đ. Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện phương châm một đất nước hai chế độ.
Đ. Trong các năm 1997 và 1999, Trung Quốc đã thu hồi được hai vùng lãnh thổ là Hổng Công và Ma Cao.

Bài tập 3 trang 12 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12

Hãy điền những nội dung phù hợp vào chỗ chấm (…) trong các câu sau:

1. Ngày 1 – 10 – 1949, nước … được thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông.

2. Sự kiện tàu “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ bay vào không

gian đã đưa … trở thành quốc gia thứ …. trên thế giới có tàu cùng với con người bay vào vũ trụ.

Trả lời:

1. Ngày 1 – 10 – 1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông.

2. Sự kiện tàu “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ bay vào không

gian đã đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới có tàu cùng với con người bay vào vũ trụ.

Bài tập 4 trang 12 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12

Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946 – 1949) và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa diễn ra như thế nào ?

Trả lời:

Từ 1946 – 1949, nội chiến giữa Đảng Quốc dân và Đảng Cộng sản:

– Ngày 20/07/1946, Tưởng Giới Thạch phát động nội chiến.

– Từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947: quân giải phóng thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực,sau đó chuyển sang phản công và giải phóng toàn bộ lục địa Trung QuốC. Cuối năm 1949, Đảng Quốc Dân thất bại phải bỏ chạy ra Đài Loan.

– Ngày 01/10/1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập.

* Ý nghĩa

– Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc đã hoàn thành, chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc.

– Xóa bỏ tàn dư phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do tiến lên CNXH.

– Ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc thế giới.

Bài tập 4 trang 12 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12
Lịch sử

Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946 – 1949) và sự thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa diễn ra như thế nào ?

Trả lời:

Từ 1946 – 1949, nội chiến giữa Đảng Quốc dân và Đảng Cộng sản:

– Ngày 20/07/1946, Tưởng Giới Thạch phát động nội chiến.

– Từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947: quân giải phóng thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực,sau đó chuyển sang phản công và giải phóng toàn bộ lục địa Trung QuốC. Cuối năm 1949, Đảng Quốc Dân thất bại phải bỏ chạy ra Đài Loan.

– Ngày 01/10/1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập.

* Ý nghĩa

– Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc đã hoàn thành, chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc.

– Xóa bỏ tàn dư phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do tiến lên CNXH.

– Ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc thế giới.

Bài tập 5 trang 12 Sách bài tập (SBT) Lịch sử 12

Nêu bối cảnh lịch sử, chủ trương và thành tựu trong công cuộc cải cách – mở cửa của Trung Quốc.

Trả lời:

* Hoàn cảnh lịch sử

– Khách quan

Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, tiếp theo là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế, tài chính…Những cuộc khủng hoảng này đặt nhân loại đứng trước những vấn đề bức thiết phải giải quyết như tình trạng vơi cạn dần nguồn tài nguyên, bùng nổ dân số…

Yêu cầu cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội để thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ theo xu thế quốc tế hoá.

=>Trong bối cảnh trên, yêu cầu lịch sử đặt ra đối với tất cả các nước là phải nhanh chóng cải cách về kinh tế, chính trị- xã hội để thích ứng.

– Chủ quan

Đối nội: từ năm 1959 đến năm 1978 Trung Quốc trải qua 20 năm không ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội. Với việc thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn, sản xuất giảm sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn…Trong nội bộ Đảng và Nhà nước Trung Quốc diễn ra những bất đồng gay gắt về đường lối, tranh chấp về quyền lực, đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (1966-1976)…

Đối ngoại: ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ của nhân dân Việt Nam…xảy ra những cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với các nước Ấn Độ, Liên Xô…Tháng 2- 1972, Tổng thống Mĩ R.Nichxơn sang thăm Trung Quốc, mở đầu quan hệ mới theo chiều hướng hoà dịu giữa hai nướC. Bối cảnh lịch sử trên đòi hỏi Trung Quốc tiến hành cải cách để phù hợp với xu thế chung của thế giới và đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng không ổn định…

* Nội dung đường lối cải cách

Tháng 12-1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối mới do Đặng Tiểu Bình khởi xướng, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế – xã hội ở Trung Quốc hiện nay. Đường lối này được nâng lên thành đường lối chung qua Đại hội XII (9-1982), đặc biệt là Đại hội XIII (10-1987) của Đảng: Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm.

Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản (con đường XHCN, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông).

Tiến hành cải cách mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường XHCN linh hoạt hơn nhằm hiện đại hoá và xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ văn minh.

* Thành tựu

Thực hiện đường lối cải cách đất nước Trung Quốc đã có những biến đổi căn bản.

Sau 20 năm nền kinh tế Trung Quốc có bước tiến nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trung bình hàng năm trên 8%, đạt giá trị 7974 tỉ nhân dân tệ, đứng hàng thứ 7 thế giới. Năm 2000 GDP của Trung Quốc vượt qua ngưỡng nghìn tỉ đô la Mĩ..Thu nhập theo khu vực có sự thay đổi lớn…Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt…

Khoa học- kỹ thuật, văn hoá giáo dục Trung Quốc đạt nhiều thành tựu nổi bật. Chương trình thám hiểm không gian được thực hiện từ năm 1992 thu được kết quả khả quan…

Trong lĩnh vực đối ngoại Trung Quốc có nhiều thay đổi, Trung Quốc tiến hành bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Mông Cổ, Việt Nam…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *